Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

NGHI LỄ LÀM VÍA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG - HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

Trong những ngày từ 6/4 đến ngày 8/4/2012 vừa qua, nhóm sinh viên ngành Việt Nam Học chúng tôi đã có một chuyến đi thực tế điền dã Dân tộc học tại địa bàn xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La.

Mục đích của chuyến đi là tìm hiểu về đời sống gia đình và quan hệ gia đình của đồng bào dân tộc Thái (Trắng), chuyến đi của chúng tôi đã rất thành công dưới sự dẫn dắt và chỉ bảo của các thầy cô trong đoàn, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Bùi Xuân Đính (trưởng đoàn). Và tại đây chúng tôi đã nhận được sự đón tiếp hết sức nhiệt tình của của chính quyền địa phương, sự thân thiện và mến khách của bà con dân tộc Thái (trắng).

Phương pháp Điền dã Dân tộc học là một trong những phương pháp điều tra quan trọng mang lại hiệu quả cao của ngành Dân tộc học và một số ngành khoa học khác, với chuyến đi thực tế điền dã Dân tộc học này, nhóm sinh viên chúng tôi đã có cơ hội được vận dụng những kiến thức cũng như những lý thuyết về phương pháp điền dã Dân tộc học vào thực tế. Nhờ có chuyến đi thực tế tại Sơn La chúng tôi đã có cơ hội được áp dụng, so sánh những lý thuyết đã được học vào thực tế và chúng tôi đã gặt hái được nhiều kiến thức trải nghiệm thực tế vô cùng quý giá và hữu ích.

Chuyến đi đã để lại cho chúng tôi những ấn tượng vô cùng sâu sắc về cuộc sống đầy giản dị và chân thành của bà con dân tộc ở xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La. Đặc biệt là những ấn tượng về truyền thống văn hóa và phong tục tập quán của bà con dân tộc Thái, đó là những nét đẹp về văn hóa truyền thống rất sâu đậm và đầy tính nhân văn.

Trong chuyến đi thực tế đó, nhóm sinh viên chúng tôi đã rất may mắn khi được sống và sinh hoạt cùng gia đình cụ (bà) Lò Thị Sin (sinh năm 1920) và cô Sa Thị Long (sinh năm 1958) là đồng bào dân tộc Thái trắng tại Bản Puôi 1- xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La.

Trong những ngày sống cùng gia đình của cụ Sin chúng tôi đã nhận được sự quan tâm rất ân cần và chu đáo của gia đình, đồng thời chúng tôi cũng học hỏi và tìm hiều được rất nhiều kiến thức về văn hóa, phong tục của người Thái trắng. Và may mắn hơn nữa là trong những ngày chúng tôi sống cùng gia đình, chúng tôi đã được tham dự cùng gia đình một nghi lễ được coi là rất tiêu biểu trong phong tục của người Thái đó là lễ “Làm vía” hay còn gọi là lễ “Buộc chỉ cổ tay”.

Được biết đây là nghi lễ quan trọng đối với người Thái và gia đình người Thái nên chúng tôi đã chọn lễ “Làm vía” của người Thái làm đề tài nghiên cứu của mình.

Trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót, do vậy rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của chúng tôi được hoàn thiện hơn.


Xin Chân thành cảm ơn!


CHƯƠNG 1:

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÃ HUY TÂN VÀ BẢN PUÔI I


Giới thiệu chung về xã Huy Tân.

Xã Huy Tân là một xã thuộc vùng 1 của huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La, xã Huy Tân cách trung tâm huyện khoảng 3km, phía Tây giáp xã Quang Huy, phía Đông giáp xã Tân Lang, phía Nam giáp xã Huy Thượng, phía Bắc giáp xã Huy Hạ. Có 13 bản; 1.105 hộ; với 4.847 nhân khẩu; nam: 2.401 nhân khẩu; nữ: 2.446 nhân khẩu.

Diện tích.

Xã Huy Tân có tổng diện tích đất tự nhiên là: 2.101,5 ha. Trong đó:
+ Đất nông nghiệp: chiếm 1.089,07 ha, gồm có đất chuyên trồng lúa, chuyên trồng hoa mầu, đất nuôi trồng thủy sản và đất lâm nghiệp.
+ Đất phi nông nghiệp chiếm: 136,8 ha, gồm có đất ở và đất chuyên dùng khác.
+ Đất chưa sử dụng: chiếm 861,27 ha, gồm có đất đồi núi chưa sử dụng và đất núi đá không có cây rừng.

Dân số.

Xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La gồm có 13 bản, với 1.105 hộ và 4.847 nhân khẩu:
+ Nhân khẩu Nam: 2.401 người.
+ Nhân khẩu Nữ: 2.446 người.

Kinh tế:

Kinh tế Trồng trọt:

Tại Xã Huy Tân kinh tế trồng trọt rất được chú trọng (đặc biệt là kinh tế trồng lúa nước), người dân nơi đây thưc hiện việc luân canh tăng vụ với nhiều loại cây trồng phù hợp với điều kiện đất, khí hậu tại địa phương như: Cây lúa nước, cây lúa nương, cây ngô, cây sắn, cây bông, cây dưa…

Chăn nuôi - thú y:

Xã Huy Tân có rất nhiều biện pháp hỗ trợ chăn nuôi như: tổ chức củng cố và nâng cao năng lực cán bộ hoạt động trong ngành thú y ở cơ sở bản, lập kế hoạch tiêm phòng định kỳ cho vật nuôi… Do vậy kinh tế chăn nuôi của bản đã có những bước phát triển đáng kể.

Lâm nghiệp:

Xã Huy Tân là vùng có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 633,99 ha nên xã đã có nhiều chính sách, biện pháp để bảo vệ rừng như: Tăng cường kiểm tra già soát các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trên địa bàn, tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô.

Giao thông, thủy lợi, tài nguyên môi trường:

Vấn đề giao thông, thuỷ lợi và tài nguyên môi trường là những vấn đề rất được xã quan tâm chú trọng phát triển, nhiều con đường mới được mở ra, các công trình thuỷ lợi mương máng được xây đắp…Bộ mặt cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải của xã ngày càng được hoàn thiện.
Văn hóa – Xã hội.
Xã Huy Tân tuy là một xã miền núi nhưng những công tác về giáo dục đào tạo, công tác chăm sóc y tế, văn hóa, thông tin, thể thao đều được quan tâm, duy trì ổn định. Xã đã triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “phong trào xây dựng bản, gia đình văn hóa” được triển khai rộng khắp được nhân dân đồng tình hưởng ứng tổ chức và thực hiện.
Các chính sách xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, công tác chữ thập đỏ được  mọi người dân thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
Công tác tư pháp, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống ma túy được triển khai và thực hiện chặt chẽ, đúng theo quy định.
An ninh quốc phòng.
Xã luôn giữ vững an ninh, đặc biệt là ngăn chặn việc lén lút tái trồng cây thuốc phiện. Công tác quân sự- quốc phòng thường xuyên được duy trì, nhất là tinh thần sẵn sàng chiến đấu, chủ động phòng cháy chữa cháy bảo vệ rừng.
Tuy nhiên trong những năm qua, xã cũng gặp phải không ít khó khăn và những hạn chế:
+ Năng suất lúa, ngô chưa đạt yêu cầu, kế hoạch đề ra.
+ Dịch bệnh gia súc, gia cầm chưa được kiểm soát hiệu quả.
+ Nghề chăn nuôi thủy sản chưa được sự quan tâm đầu tư phát triển, còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ.
+ Mặc dù có phong cảnh núi rừng đẹp, mờ ảo trong sương sớm nhưng chưa được khai thác nhiều về du lịch
Tóm lại, bên cạnh những hạn chế đó không thể phủ nhận xã Huy Tân là một xã có tốc độ kinh tế tăng trưởng nhanh, xã đã thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, cũng như đảm bảo chất lượng chăm sóc y tế, giáo dục, phong tục tập quán...       
1.2. Giới thiệu chung về bản Puôi I.
Trước đây, bộ máy phìa tạo đóng tại trẩn Chiềng- xã Quang Huy, đây là một Mường lớn nàm ngay cạnh bản Puôi. Lúc đó người dân bản Puôi hay nói dối chống lại các Phìa Tạo, vì vậy các Phìa Tạo gọi bản là Puôi có nghĩa là nói dối (tiếng Thái gọi là Puôi, tiếng Mường gọi là Puội).
Bản Puôi có lịch sử lâu đời, trước đây cả ba bản Puôi 1, Puôi 2, Puôi 3 là 1 bản (gọi bản Puôi 1). Đến khoảng năm 1992 thì bản Puôi 1 (cũ) được tách ra thành 3 bản: Puôi 1, Puôi 2 và Puôi 3 (do dân số ngày càng đông nên tách  ra để dễ dàng quản lí, tổ chức). Ban đầu khi mới tách về mặt hành chính ra thành ba bản, nhưng tổ chức chi bộ của bản vẫn không tách mà vẫn hoạt động chung, nhưng đến sau này khoảng năm 2005 thì chi bộ mới tách ra thành ba chi bộ độc lập.
Hiện nay, cả ba bản Puôi 1, Puôi 2, Puôi 3 có trên 300 hộ, người dân ở ba bản thuộc ba tộc người là Thái, Mường, Kinh (Việt) trong đó tộc người thái là chủ yếu. Do đặc thù cư dân thuộc tộc người khác nhau nhưng có thời gian sống xen kẽ lâu dài, có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với nhau nên người dân ở cả ba bản đều sử dụng cả ba ngôn ngữ: Thái, Mường, Việt trong giao tiếp hàng ngày.
Mặc dù hiện nay ba bản đều có cơ cấu tổ chức riêng nhưng người dân ở đây vẫn coi như là một bản, họ sống với nhau một cách hoà thuận, đồng ruộng vẫn xen kẽ nhau, khi gia đình nào đó trong bản có việc vui hay buồn thì người dân ở cả ba bản đều chia sẻ và giúp đỡ một cách nhiệt tình, họ coi nhau như người một nhà và luôn cho rằng việc tách từ một bản ra thành ba bản chỉ là để tiện cho việc tổ chức, quản lí.

CHƯƠNG 2:
NGHI LỄ LÀM VÍA CỦA NGUỜI THÁI TRẮNG
(Ở BẢN PUÔI I- XÃ HUY TÂN- HUYỆN PHÙ YÊN- TỈNH SƠN LA)

Lễ làm vía (hay lễ buộc chỉ cổ tay) là một nghi lễ quan trọng và quen thuộc trong phong tục của một số dân tộc ít người, lễ “làm vía” là một nghi lễ nhằm mục đích giải trừ đi cái xấu, xua đuổi tà ma xung quanh cuộc sống của người được giải vía. Lễ “làm vía” của người Thái cũng giống như lễ “Dâng sao giải hạn” của người Kinh, điểm khác biệt chỉ là địa điểm tổ chức nghi lễ: lễ Dâng sao giải hạn được tổ chức ở trên chùa, còn lễ Làm vía thì được tổ chức ở nhà.
2.1. Nguồn gốc của lễ Làm Vía.
2.1.1. Quan niệm của người Thái về Nhân Sinh.
Người Thái với nền kinh tế chính là kinh tế nông nghiệp lúa nước và kinh tế  nương rẫy, nên xuất phát từ trong sinh hoạt, lao động và sản xuất của nền nông nghiệp, con người phải gồng mình chống chọi với quy luật sinh tồn của tự nhiên. Chính vì lẽ đó đồng bào Thái quan niệm thực tế mỗi con người đều tồn tại phần hồn và vía song hành và được coi như là một thực thể siêu hình vô cùng quan trọng. Hồn vía con người luôn gắn bó với thân xác của cuộc sống đích thực, của đời người từ khi sinh ra cho tới khi lớn lên và trở về với cõi vình hằng.
Người Thái cho rằng, đàn ông Thái có 7 vía, đàn bà Thái có 9 vía, khi hồn vía lìa khỏi thân xác thì con người sẽ không tồn tại (tức là chết), hoặc vía người đó bị lạc đi mất vài vía thì sẽ ốm đau, bênh tật, tai ương và không gặp may mắn trong cuộc sống.
Hồn vía của mỗi con người thường luôn ở bên cạnh con người và ngự trị ở nơi con người cư trú, vì vậy mà ở trước cầu thang lên nhà sàn của người Thái có đặt một chiếc giỏ gián giấy màu, đó chính là “bồ đựng vía” nơi để vía từng thành viên trong gia đình trú ngụ. Ở một số nơi thì có đặt một bàn thờ nhỏ như: trước cổng vào nhà hoặc đặt ở ngoài vườn để bảo vệ hồn vía của những người thân trong gia đình và ngăn chặn những vía xấu vào nhà.
Không nằm ngoài quy luật đó đồng bào người Thái trắng ở huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La cũng thường đặt một bàn thờ ở trước cổng hoặc ở ngoài vườn của gia đình, bàn thờ đó để bảo vệ hồn vía của những người thân trong gia đình.
2.1.2. Thời gian tổ chức lễ Làm Vía.
Đối với người Thái từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, mỗi một người Thái phải được làm lễ giải vía nhiều lần (ít nhất là 2 lần trở lên), lễ làm vía thường được tổ chức khi trong gia đình có người ốm đau, bệnh tật, khi đi xa về, khi bị tai nạn, làm vía cho phụ nữ khi mới sinh, làm vía cho các cô gái khi chuẩn bị về nhà chồng, hay làm vía cho những người cao tuổi trong nhà, cho những người đã mất….
Vía trong tiếng Thái là “ khoắn” và làm vía hay gọi vía là “ họng khoắn” là gọi hồn vía trở về với bố mẹ, vợ con, trở về với thể xác, để vía không đi lang thang nơi đất khách, nơi bờ suối, bờ sông, đi lạc không biết đường về nhà.
Khi trong gia đình có em bé mới được sinh ra, vía vẫn còn non nớt, nên gia đình tổ chức lễ buộc chỉ cổ tay (làm vía) cho trẻ nhỏ khi tròn một tháng tuổi. Khi đó, trẻ nhỏ còn được đeo một chiếc vòng bạc nguyên chất vào tay hoặc chân để cho khỏe mạnh, cứng cáp. Bên cạnh đó, khi trẻ nhỏ vẫn còn gùi trên lưng, nếu như đi xa thì ông bà, bố mẹ thường bôi lên trán trẻ nhỏ một vệt nhọ nhồi với quan niệm đánh dấu để vía trẻ nhớ theo ông bà, cha mẹ về nhà.
Đối với các cụ già, vía cũng bước vào tuổi lú lẫn nên nhiều khi vía đi lạc không nhớ đường về nhà hoặc vía dễ bị ma quỷ bắt đi nên hay đau ốm, bệnh tật nên cũng được làm vía, làm vía cũng là cách con cháu được báo hiếu với ông bà, cha mẹ cầu mong ông bà, cha mẹ luôn mạnh khỏe sống lâu. Nếu như ông bà, cha mẹ mới mất thì làm vía để tiễn đưa hồn vía đi được thanh thản, và tìm đúng đường về với tổ tiên.
Đối với những cô gái chuẩn bị đi lấy chồng cũng được tổ chức lễ làm vía để chúc mừng và tiễn sang nhà chồng.
Hoặc khi gia đình có khách xa đến chơi, người Thái cũng tổ chức lễ làm vía và buộc chỉ tay cho khách. Vì họ quan niệm, vía có lúc ham chơi mà lang thang quên cả lối về, hoặc vía lạ bản, lạ mường nên dễ bị ma mãnh xứ người đùa giỡn làm hại. Vì vậy người Thái làm lễ buộc chỉ cổ tay cho khách để cho vía của khách luôn ở bên người, cầu giúp cho khách luôn vui vẻ, may mắn suốt dọc đường.
Ở dân tộc Mường có Lễ “làm ngái”, là một nghi lễ truyền thống giống như Lễ làm vía của dân tộc Thái (Ngái là loại cây giống như cây nghệ, củ có lõi màu xanh xẫm). Đồng bào Mường quan niệm, cây Ngái có sức mạnh siêu hình xua đuổi tà ma ác quỷ nên ở đâu có cây Ngái mọc là ở đó không có ma quỷ đến quấy phá và làm hại. Vì vậy bà con lấy củ cây Ngái về thái thành hạt, đặt lên ban thờ làm nghi lễ cúng tế, sau đó xâu vào sợi chỉ theo số lượng vía của nam hoặc của nữ rồi đem buộc vào cổ tay.
Trong chuyến đi thực tế tại huyện Phù Yên (Sơn La), nhóm sinh viên chúng tôi cũng được chủ nhà (gia đình cụ Lò Thị Sin- người dân tộc Thái) tổ chức lễ làm vía và buộc chỉ cổ tay cho. Tôi nhận thấy đó là một phong tục tốt, ý nghĩa và chúng tôi luôn cảm thấy may mắn trong suốt chuyến đi của mình.
2.2.  Nghi thức của lễ Làm Vía.
Lễ làm vía có thể tuỳ từng gia đình chia làm các phần khác nhau nhưng chúng tôi nói đến lễ Làm Vía của gia đình cụ (bà) Lò Thị Sin (sinh năm 1920) làm vía cho cháu trai Hà Trung Nghiệp được chia làm hai phần: phần thứ nhất là lễ giải vía; phần thứ hai là lễ cầu phúc lộc, trong đó phần thứ nhất lễ giải vía là quan trọng nhất.
2.2.1. Lễ Giải Vía.
2.2.1.1. Quá trình chuẩn bị.
Bước 1: Đầu tiên Gia đình cử một người tới nhà thầy Mo nhờ thầy Mo chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ làm vía. Thầy Mo nào xem ngày là thấy Mo đó sẽ là người tiến hành nghi lễ làm vía.
Bước 2: Chuẩn bị lễ vật.
Lễ vật gồm: một con gà trống luộc chín để nguyên con, 2 bát cơm, 7 ly rượu, 1 ly gạo, 1 bát nước canh, 1 bát nước lã, 1 đĩa trầu cau và tiền đen, 1 con dao, tất cả được đặt trên một cái mâm, dưới mâm đặt 9 thứ lá gai.
Lễ vật cho lễ giải vía nhất thiết phải có gà trống và đủ 9 loại lá gai, lá gai này là loại lá gì cũng được nhưng phải là cây có gai như: cây tre, cây mây, cây găng…. các loại lá này có thể được lấy xung quanh nhà hoặc là lấy trong rừng.
Hình 1: Thầy Mo và mâm lễ giải vía .

Trên đây là những lễ vật cơ bản cho một lễ làm vía, nhưng tùy theo từng gia đình khi họ nhờ thầy Mo xem thấy ma quỷ trong nhà có đòi hỏi những lễ vật khác như: Ngựa, Thuyền hay quần áo… thì gia đình sẽ chuẩn bị thêm những lễ vật đó để cúng cho hồn ma mang đi và không quay trở lại đòi hỏi và làm hại gia đình nữa.
Đồng thời cũng tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình mà tổ chưc lễ làm vía to hay nhỏ. Nếu là lễ tổ chức to thì gia chủ có thể giết trâu, mổ bò mời họ hàng anh em tới ăn uống linh đình.
2.2.1.2 Tiến hành nghi lễ.
Đầu tiên chọn nơi để mâm lễ vật: mâm lễ vật được bày ở gian ngủ của người được giải vía, nếu là giải vía cho cả gia đình thì lễ vật sẽ được đặt ngoài sân và cũng tiến hành làm lễ ở ngoài sân.
Thầy Mo tay cầm chiếc quạt và ngồi bên cạnh mâm lễ đọc niệm chú bằng tiếng Thái, thi thoảng thầy Mo lại dùng quạt quạt mấy cái để xua tà ma.
Điều đặc biệt trong lễ làm vía là không có thắp hương vì đây là làm lễ cho người đang sống, không liên quan tới những người đã mất trong gia đình. Chính vì vậy mà trên ban thờ của gia đình cũng không đốt hương và bày một thứ lễ vật gì.
Thầy Mo tiến hành nghi lễ phải là một thầy Mo to và có nhiều khả năng  (thầy Mo không nhất thiết phải là người Thái trắng) mà có thể thầy Mo là người Mường, hoặc là các dân tộc khác sống lân cận. Như vậy là không có sự phân biệt dân tộc giữa thầy Mo và gia đình làm lễ. Cụ thể trong lễ giải vía tại nhà cụ Lò Thị Sin là thầy Mo: Đinh Văn Hiệp- dân tộc Mường, người bản Cứu đã có 10 năm kinh nghiệm trong nghề Mo.
Không phải ai cũng có thể trở thành thầy Mo, mà để trở thành thầy Mo phải là người mà gia đình có truyền thống làm Mo từ nhiều đời truyền lại cho con cái. Thứ hai nữa là phải có căn cơ với nghề Mo thì mới có thể giao tiếp được với thần linh. Thầy Mo to là người có thể tiến hành được rất nhiều các nghi lễ khác nhau từ tang ma, làm vía, cầu siêu….
Trong nghi lễ thầy Mo không có trang phục làm lễ riêng (mặc quần áo bình thường), và người Thái có suy nghĩ là trang phục của thầy Mo thế nào không quan trọng mà quan trọng là khả năng của thầy Mo đó như thế nào, có thể giao thiệp được với ma quỷ và thần linh hay không.
Trong quá trình thầy Mo làm lễ thì người được làm vía không nhất thiết phải có mặt để làm lễ cùng, sau khi thầy Mo làm lễ song thì người được làm vía mới cần có mặt để thầy Mo buộc chỉ tay. Thầy Mo là người buộc chỉ tay cho người được làm lễ đầu tiên, rồi lần lượt tới các thành viên trong gia đình buộc cho. Trong khi buộc chỉ tay, thầy Mo khấn “bốn mươi hồn vía trước, năm mươi hồn vía sau, ở chốn nào thì hãy về đây với cha mẹ, người thân sống đền đầu bạc tóc bạc” (bài khấn đã được dịch ra tiếng việt, còn khi làm lễ thầy Mo khấn bằng tiếng Thái).
Ví dụ: Người được làm lễ là con trai của chủ nhà thì sau khi thầy Mo buộc chỉ tay xong thì đến bố mẹ, rồi đến ông bà, rồi đến chú bác cô dì, rồi đến anh chị em ruột trong gia đình.

Hình 2: Hà Trung Nghiệp đang được thầy Mo và mẹ buộc chỉ vào cổ tay.


Nếu làm lễ cúng vía cho cháu thì sau thầy Mo buộc chỉ là ông bà, rồi đến bố mẹ, đến chú, bác, cô, rồi đến anh chị em ruột trong nhà buộc chỉ cho người cháu đó.
Chú ý: nếu là làm lễ cho người già trong nhà thì con dâu và con rể không được phép buộc chỉ cho người được làm lễ.
Trong nghi lễ không quy định số chỉ buộc tay là bao nhiều, nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng các thành viên trong gia đình. Trước khi tiến hành buộc chỉ tay, thì cuộn chỉ phải được làm lễ để xin ban cho quyền năng của thế lực siêu nhiên nhập vào phù hộ cho con người giữ được vía, được hồn luôn khỏe mạnh, tránh được tai ương, ma quỷ nhìn thấy chỉ buộc ở cổ tay sẽ không dám làm hại hồn vía con người. Khi làm lễ xong, chỉ được buộc vào cổ tay (Nam chập 7 sợi chỉ và buộc vào cổ tay trái, Nữ chập 9 sợi buộc vào cổ tay phải). Màu sắc chỉ buộc tay phụ thuộc vào người được làm vía là người sống hay người chết, nếu là làm vía người sống thì được buộc chỉ đỏ,  nếu làm lễ cho người chết thì chỉ buộc tay là màu đen.
Sau khi kết thúc lễ làm vía những lễ vật mà hồn ma đòi hỏi như Ngựa, Thuyền, quần áo… sẽ được mang ra sông hoặc ra suối dải theo dòng nước. Còn những loại lá gai thì được buộc gọn thành một bó và treo lên trên cửa chính vào nhà, với ý nghĩa là ma quỷ không thể vào nhà làm hại người sống được nữa và với ý nghĩa mọi người đi qua cửa phải cúi đầu thể hiện sự không thua kém ai của chủ nhà và sự kính nể của mọi người với chủ nhà. Kết thúc Lễ làm vía là Lễ cầu phúc lộc, may mắn.
Hình 3: Chủ nhà treo những loại lá gai trong lễ cùng Vía
2.3.  Lễ Cầu Phúc
2.3.1. Chuẩn bị lễ vật:
Mâm lễ cầu phúc gồm một con Chó luộc chín để nguyên cả thân bày cùng các bộ phận khác (nếu không có Chó thì bày mâm lễ bằng Vịt), một bát nước canh, 1 bát mắm, 1 bát gạo cắm 3 nén nhang, 2 bát cơm, 1 đĩa Trầu cau và Tiền đen, 1 cây Đèn dầu, một bát nước và vài nhánh cỏ, 3 chén rượu, 4 xấp vải đặt trên đầu mâm lễ (chú ý lễ vật bắt buộc phải làm bằng thịt Chó hoặc là thịt Vịt không thể thay thế bằng thịt các loại con vật khác).
Bốn xấp Vải đặt phía trên mâm lễ là quà cho những ma quỷ mang theo, không quay lại làm hại gia đình, một bát nước và vài nhánh cỏ ở trong bát nước là để khi thầy Mo làm lễ xong sẽ vẩy nước quanh nhà để làm mát nhà và xua đuổi tà ma, mang lại sự may mắn cho gia đình.
2.3.2. Tiến hành nghi lễ.
Mâm lễ vật được đặt ở giữa nhà và thầy Mo ngồi bên mâm lễ miệng đọc thần chú (thần chú là những lời cầu mong sự may mắn cho gia đình người cúng Vía), trong quá trình làm lễ người nhà không cần có mặt để làm lễ cùng thầy Mo. Sau một hồi thầy Mo đọc thần chú làm lễ xong thì cầm bát nước có vài nhánh cỏ đi vẩy xung quanh nhà và vẩy vào những người trong gia đình (người Thái có quan niệm rằng bát nước ấy đã được thần linh ban may mắn cho nên khi được thầy Mo vảy nước đó vào người là mọi người trong gia đình sẽ được may mắn), sau khi vảy nước xong thì thầy Mo vứt những nhánh cỏ ra vườn (tức là mang may mắn cho cây cối trong vườn được xanh lá, sai quả).
Sau khi thầy Mo đã hoàn tất xong cả hai phần nghi lễ: lễ giải vía và lễ cầu phúc thì gia đình bắt đầu được thụ hưởng lễ vật.
2.4. Qúa trình hưởng thụ lễ vật.
Có một điều đặc biệt rằng vào những ngày trước khi gia đình tổ chức lễ làm Vía nếu như anh em họ hàng có muốn giúp đỡ gia đình trong quá trình chuẩn bị lễ vật: như tiền nong, gạo, muối… thì phải đưa đến trước ngày làm vía. Đến hôm làm vía anh em họ hàng chỉ đến người không để ăn uống hưởng thụ lễ vật, không được mang theo bất cứ cái gì đến (vì người Thái trắng quan niệm rằng khi họ đã làm Vía  để giải trừ cái xấu đi rồi mà ai đó mang cái gì đến là mang sự xấu, điều xấu đến cho họ). Sau khi ăn uống xong cũng không ai được mang đồ thừa về nhà, có thể bữa ăn tiếp theo lại đến ăn để cho hết những lễ vật đó.
Trong quá trình hưởng thụ lễ vật người Thái trắng rất quan trọng vị trí ngồi giữa các mâm, mâm cao nhất trong nhà là mâm dành cho những người lớn tuổi trong gia đình và họ hàng ngồi (thầy Mo cũng ngồi mâm này), trong mâm này được đặt 2 chén rượu cúng và rượu được chia đều cho các thành viên trong mâm hưởng thụ (các mâm khác không có chén rượu này).
Mâm ngay cạnh ban thờ chiếu xuống là mâm của chủ gia đình và những người con trai trong gia đình, nếu gia đình còn có bố thì vị trí gần ban thờ nhất là của ngưới bố, nếu không còn bố thì vị trí đó dành cho con trai cả, nếu không còn con trai cả (hoặc không có con trai cả) thì vị trí đó sẽ dành cho con trai nuôi, con trai thứ và út không được ngồi vào vị trí đó. Người Thái trắng có phong tục nhận con nuôi, chính vì vậy nếu như con trai cả trong gia đình không còn thì con trai nuôi có vị trí quan trọng hơn những người con trai khác trong gia đình, chủ nhà cũng được gọi bằng tên con trai nuôi, không được gọi bằng tên của mình và tên của chồng (ngay cả khi chồng còn sống hay đã chết).
Cụ thể là cô Sa Thị Long có người con trai nuôi tên là Thắng, con trai cả của cô đã mất nên mọi người gọi cô là cô Thăng- gọi theo tên con trai nuôi.
Những mâm tiếp theo cứ theo thứ tự vai vế trong gia đình dòng họ mà ngồi. Mâm ngồi gần cửa chính nhất là mâm của con dâu, và các cháu nhỏ.
Trong một mâm cơm của người Thái cũng có phân chia rõ vai vế trong gia đình, những người lớn hơn trong nhà, trong họ thì được ngồi quay lưng về phía ban thờ, những người con gái còn trẻ chưa lập gia đình thì không được ngồi quay lưng về phía ban thờ. Nếu nhà có khách là những người ngoài thì cũng không được ngồi quay lưng về phía ban thờ và không được ngồi ở phía trên của mâm cơm.
2.5. Ý nghĩa của lễ Làm Vía.
Tục làm Vía đã tồn tại lâu đời trong đời sống của bà con dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung và đồng bào Thái trắng ở huyện Phù Yên (Tỉnh Sơn La) nói riêng. Lễ làm Vía thực chất là việc anh chị em trong gia đình, họ hàng, láng giềng khích lệ người được làm Vía để họ phấn chấn, vui vẻ vượt qua những tai ương trong cuộc sống, là cách cộng đồng thể hiện sự quan tâm đến một cá nhân nào đó.
Đối với người đã chết thì lễ làm vía có nghĩa tiễn đưa linh hồn người chết được siêu thoát và bình yên sang thế giới bên kia đoàn tụ cùng tổ tiên. Đồng thời có chức năng an ủi tinh thần những người sống sau những đau buồn và mất mát khi gia đình có người chết.
Đối với những vị khách lạ của gia đình như khách du lịch, người từ nơi khác đến chơi thi người Thái tổ chức lễ làm vía và buộc chỉ cổ tay là cách thể hiện lòng thân thiện, sự mến khách, hiếu khách của người Thái.
Như vậy tục làm vía (hay đeo chỉ buộc tay của người Thái) hay tục làm “Ngái” của người Mường đều là những nghi thức cầu an truyền thống mang những nét tương đồng trong văn hóa của một số dân tộc ít người ở vùng đât Tây Bắc. Những nghi thức này không gây tốn kém về tiền bạc, vật chất, cũng không phải là mê tín dị đoan, nó chỉ đơn thuần là một nghi lễ cầu an, cầu phúc rất nguyên bản và sơ khai.
Chính vì vậy theo chúng tôi là nhà nước, chính quyền địa phương cần có những chính sách bảo tồn và phát triển những nét đẹp, văn hóa đặc sắc và mang tính đặc thù riêng của các dân tộc thiểu số như thế này, để những truyền thống văn hóa tốt đẹp và không gây hại như thế này được duy trì và tồn tại mãi mãi.
KẾT LUẬN
Tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán... luôn gắn với sự ra đời của mỗi tộc người, đó là những yếu tố góp phần làm nên bản sắc riêng để phân biệt giữa các tộc người với nhau, tuy nhiên trong sự giao lưu kinh tế, văn hóa không thể tránh khỏi sự giao thoa, nhưng cũng chính sự giao thoa ấy đã làm cho các nền văn hóa xích lại gần nhau hơn, dễ hiểu hơn, dễ được chấp nhận hơn, nhất là trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới mẻ hiện nay.
Làm vía là một phong tục đẹp của người Thái (trắng) ở Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La. Nó thực chất là việc anh em họ hàng động viên, khích lệ người được làm vía để họ phấn chấn, vui vẻ vượt qua những tai ương trong cuộc sống, là cách cộng đồng thể hiện sự quan tâm đến một cá nhân nào đó theo tinh thần “mọi người vì một người”, gạt đi những hủ tục còn ít nhiều rơi rớt, phần tốt đẹp của phong tục này chính là sự cố kết cộng đồng, buổi Làm Vía là nơi mọi người gặp nhau, chuyện trò, thắt chặt hơn tình cảm anh em, tình cảm xóm giềng, “Đất sống” của những giá trị tinh thần ấy nằm trong nếp sống, nếp nghĩ và tâm hồn của chính những người con mỗi bản Thái.
Qua chuyến đi thực tế tại bản Puôi I - Xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La chúng tôi đã được sống cùng và học hỏi được rất nhiều điều từ đồng bào dân tộc Thái nơi đây, và mặc dù thời gian không dài (chỉ có 3 ngày) nhưng như vậy cũng đã là điều rất may mắn và hạnh phúc cho chúng tôi. Điều may mắn hơn nữa là chúng tôi được tham gia, chứng kiến toàn bộ quá trình diễn ra lễ cúng Vía tại nhà mà chúng tôi ở nhờ (nhà Cô Sa Thị Long).
Chúng tôi nhận thấy đây là một nét văn hóa đặc sắc của người Thái ngày nay vẫn còn tồn tại song đang có sự mai một dần dần.Chính vì vậy chúng tôi nghĩ cộng đồng cần phải đóng góp phần nào đó vào để bảo vệ giá trị văn hóa tốt đẹp đó (hay cũng như những giá trị văn hóa của dân tộc mình), bằng cách cần phát động các phong trào, các tổ chức bảo vệ các phong tục, tập quán, các nét văn hóa đẹp, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình và của cả cộng đồng đối với phong tục tập quán của các dân tộc nói chung và lễ Làm Vía của dân tộc Thái nói riêng.
Qua chuyến đi thực tế này, chúng tôi không chỉ học hỏi được cách làm việc nghiêm túc, chu đáo của các Thầy Cô mà hơn hết chúng tôi đã dược đưa những lý thuyết trên lớp vào thực tế, và thu được nhiều kiến thức mới bổ ích, từ đó chúng tôi thêm hiểu, thêm yêu văn hóa của người Thái nói riêng và của các dân tộc trong đất nước nói chung.


Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Cùng chung tay góp sức ủng hộ bà con dân tộc và học sinh nghèo hiếu học tại Lũng Luông-Thượng Nung-Võ Nhai-Thái Nguyên

Kính thưa cả nhà 
Thượng Nung là xã đặc biệt khó khăn thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cách Hà Nội khoảng 120km. Là một xã với gần 100% là đồng bào dân tộc thiểu số gồm Tày, Nùng, Mông. Thu nhập chủ yếu của bà con là từ việc trồng lúa ngô (mỗi năm chỉ được 1 vụ) và chăn nuôi. Toàn xã có 7 thôn bản với 484 hộ dân. Theo số liệu mà địa phương vừa rà soát hộ nghèo cuối năm do anh Tuyên Chủ tịch xã cung cấp thì hai Bản người Mông Lũng Luông và Lũng Cà có số hộ nghèo nhiều nhất toàn xã: Lũng Luông là 62 hộ trên tổng số 117 hộ, Lũng Cà là 18 hộ trên tổng số 33 hộ. Cả xã có 1 trường THCS, 2 trường tiểu học và 1 trường mầm non. Hai điểm trường tiểu học được đặt tại Lũng Luông và Lũng Cà, các em học sinh đều có hoàn cảnh khó khăn và cần sự chung tay giúp đỡ của cộng đồng. Trong khi một mùa đông lại đến chúng ta cần phải lên đường mang 1 chút hơi ấm, 1 chút tình thương gửi đến những người dân và trẻ em nghèo miền núi nơi đây. Nhóm sẽ bắt đầu chính thức khởi động kêu gọi ủng hộ chương trình "Noel trên xã Thượng Nung - Huyện Võ Nhai - Thái Nguyên", dự kiến chương trình là 21/12/2014. Chương trình này sẽ trao tận tay tổng cộng 102 xuất quà dành cho hộ nghèo của 4 bản Lũng Luông, Lũng Cóm, Lũng Hoài, Lũng Cả và 230 xuất quà dành cho mầm non và tiểu học của Lũng Luông và Lũng Cóm. Cụ thể các xuất quà như sau:
* Quà dành cho hộ nghèo trị giá 400.000 đồng gồm:
- 10 kg gạo
- 1 chăn ấm
- 1 thùng mì tôm
- 1 màn tuyn
* Quà dành cho các em mầm non và tiểu học trị giá 200.000 đồng gồm:
- 1 bộ quần áo nỉ ấm
- 1 đôi ủng
- 1 chiếc mũ len
- 1 đôi tất
- 1 suất bánh kẹo
* Tổng số tiền cần cho chuyến đi là 86.800.000 đồng
Tiếp nhận ủng hộ qua tài khoản hoặc trực tiếp:
- Viettin bank: 711A79859601. Chủ TK Phạm Đình Mạnh, chi nhánh Ba Đình.
- BIDV: 22210000268735. Chủ TK Phạm Đình Mạnh, chi nhánh Thanh Xuân.
- Vietcom bank: 0541001611935. Chủ TK Lê Thị Bích Thảo, chi nhánh Chương Dương.
Mọi thông tin liên lạc, vui lòng liên hệ Mạnh Mường (0974.974.104) và Thảo Lê (0903.299.464)
Mong tất cả chúng ta cùng cố gắng để chuyến đi được thành công rực rỡ. Mọi sự đóng góp và ủng hộ xin các nhà hảo tâm và các bạn coment dưới đây để admin của nhóm tiện theo dõi.
Thay mặt nhóm, xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!
P/S: Hãy bắt đầu hành động thôi cả nhà nhỉ  Kêu gọi ủng hộ học sinh nghèo tại Lũng Luông.








Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

CỘI NGUỒN MÔ HÌNH VĂN HÓA-XÃ HỘI LÚA NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT.


Trong quá trình đi giải mã sự hình thành tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã phân tích, đối chiếu mối quan hệ và sự biến đổi bên trong của ngôn ngữ. Từ góc độ dân tộc-ngôn ngữ, các nhà khoa học đã giả định rằng cư dân Việt _Mường đã áp dụng mô hình văn hóa-xã hội lúa nước vùng chân núi của người Tày xuống vùng châu thổ sông Hồng.
Khi các nhà khoa học xem xét hai lĩnh vực chủ yếu trong mồ hình kinh tế-xã hội lúa nước: tổ chức sản xuất lúa nước thuộc hạ tầng cơ sở và cơ cấu xã họi, tổ chức chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc đã nhận ra những yếu tố giống nhau trong cơ cấu văn hóa giữa Tày-Thái và Việt –Mường.

11.  Tổ chức sản xuất nông nghiệp lúa nước.

Tên gọi gạo là khẩu của giữa Tày và Việt đều chung nhau. Ngày nay từ “khẩu” của tiếng Tày, Thái còn bao hàm nội dung rộng tương ứng với các từ lúa, gạo, cơm của tiếng Việt. Giữa hai nhánh ngôn ngữ vẫn giữ được những yếu tố chung chủ đạo, ví dụ ta có một số giống lúa như gạo cẩm/khẩu căm, gạo xoan/ khẩu xoan, gạo dâu/ khẩu dâu….
Cũng như cư dân Tày-Thái, người Việt phân lúa thành hai loại đặc tính là  gạo nếp và gạo tẻ. Từ nếp tương ứng với từ “niêu” tức là dẻo trong tiếng Thái, tiếng Tày gọi là “dếp. Từ tẻ tương ứng với từ “te” của tiếng Tày và “xé” của tiếng Thái.
Trong cơ cấu giống lúa nếp và tẻ đã có một quá trình chuyển đổi. Người Tày-Thái trồng lúa nếp là chính và việc ăn nếp hoàn toàn phù hợp với điều kiện sống và lao động của họ ở vùng chân núi hẹp trong mô hình kinh tế nông nghiệp: ruộng-rẫy, cơm nếp ăn ít, trèo núi không nặng bụng mà lại lo lâu, xôi dẻo để được lâu và mang đi nương, đi ruộng dễ dàng, thức ăn đơn giản không cần canh, có thể ăn khô..
Người Việt xưa nay cũng ăn cơm nếp. Nhưng sau này do nhu cầu lương thực ngày càng tăng vì sự phát triển dân số, người Việt đã làm nhiều vụ trong một năm. Họ đã cải tạo được giống gạo tẻ có năng suất cao, cho nên họ buộc phải chuyển sang trồng lúa tẻ là chính. Vì vậy mà trong bữa ăn hàng ngày của người Việt thường là gạo tẻ, cơm nếp trở thành món ăn trong các dịp lễ tết, ngày hội như để nhắc lại cội nguồn xa xưa khi cơm nếp là thức ăn chính.
Liên quan tới giống lúa còn có vấn đề thời vụ. Ngày nay người Việt  phải làm hai vụ. Vụ mùa vốn là vụ chính, thuận theo thời tiết và vụ chiêm là vụ cưỡng. Cư dân Tày-Thái chỉ làm một vụ trong năm. Khi đưa cây lúa xuống đồng, cư dân Việt-Mường ngoài vụ chính, vụ mùa họ còn sáng tạo thêm vụ chiêm. Tùy theo địa hình từng vùng khách nhau mà vụ chiêm có vị trí khác nhau. Ở những vùng trúng thì vụ chiêm trở thành vụ chính.
Trong nghề nông có hai loại đất trồng: lúa nước ruộng, người Tày-Thái gọi là “nà”, lúa khô ở rẫy. Từ “rẫy” bắt nguồn từ từ Môn-Khmer “sre” có nghĩa là nương rẫy. ở tiếng Mường nương rẫy được gọi là “roong”, ruộng được gọi là “ nà” theo Thái, hoặc “tlua”. Trong cơ cấu nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng hẹp của người Tày-Thái và người Mường bao giờ cũng có sự kết hợp giữa ruộng và rẫy. Nương rẫy như là một thành phần bổ sung phản ánh truyền thống trồng rau củ của thời tiền cốc loại. Mặc dù nguồn thu hoạch chính về lương thực nằm ở khu vực trồng lúa nước, nhưng nương rẫy vẫn rất quan trọng đối với đời sống của người Tày. Nó hỗ trợ cho kinh tế gia đình nguồn lương thực bổ sung, nhất là nguyên liệu cho nghề dệt vải. Sau này khi xuống đồng bằng, người Việt đã chuyển kinh tế nương rẫy thành kinh tế vườn. Cơ cấu ruộng-rẫy đã trở thành cơ cấu ruộng-vườn. Vì vậy mà vườn đối với người Việt rất quan trọng. Chỉ có vườn mới đảm bảo cho người nông dân những nhu cầu của đời sống ngoài cây lúa. Người ta gọi đó là văn hóa vườn. Vườn vốn bắt nguồn từ tiếng Hán “Viên” mà người Việt đã mượn để phân biệt với “nương”. Có thể nương có gốc với “xuốn” ( vườn) của người Tày-Thái. Trong tiếng Lào còn có từ “hược xuốn” ( vườn tược) và yếu tố “hược” có thể quan hệ với “tược” ở trong “vườn tược”.
Người Tày, người Mường và người Việt đều coi trọng lúa nước bởi nó mang lại năng suất cao và tạo ra một cuộc sống ổn định. Vì thế trong bậc thang giá trị của xã hội, ruộng nước được đề cao, người làm ruộng được xem là  văn minh, còn lúa nương thì ngược lại. Tục ngữ Thái có câu “ Hay lựa tá bẩu tò na hẩu nưng” (  nương hút mắt không bằng một thửa ruộng). Trong xã hội Mường, người làm nương bị khinh rẻ, không dược tham dự bàn việc mường, việc bản, mặc dù trong nghi lễ khi con người trở về cội nguồn, người Mường lại đề cao nhân vật ông cậu ở vùng “ tất thín” ( dân đất nương). ở người Việt sống ở đồng bằng là chủ yếu nên vị trí của lúa nương không có nhiều nên không có sự đối lập đó, nhưng trong tiềm thức người ta vẫn coi trọng lúa nước và hết sức ca ngợi những cánh đồng “ thẳng cánh cò bay” và coi thường vùng đồi núi “ nơi khỉ ho cò gáy”.
Trong nghề làm lúa nước hệ thống thuyt lợi lại là yếu tố cực kỳ quan trọng. Khi con người biết dùng thủy lợi thì lúc đó nông nghiệp lúa nước mới thực sự bắt đầu hình thành. Vì vậy người Thái có nói  “ mi nặm chẳng pên na, mi na chẳng qên khẩu”  ( có nước mới thành công, có ruộng mới có lúa”. Cư dân Việt- Mường đã áp dụng hệ thống thủy lợi của cư dân Tày-Thái. Hệ thống đó được phản ánh qua các từ ngữ. Có nhiều cách đưa nước vào ruộng: dẫn nước từ các suối có độ cao hơn mạt ruộng bằng hệ thống mương phái; ngăn suối ở dưới thấp hơn mặt ruộng rồi dùng guồng/ cọn đưa lên; trữ nước trong ao chuôm, và dùng gầu tát nước vào ruộng… Các từ mương, phai, cọn..đều là những từ có gốc Tày-Thái, sang tiếng Việt ta có mương, phái, bai guồng. Ngày nay ta còn có thể thấy được hệ thống đó trong xã hội của người Mường, người Thái.
Có người cho rằng “áo” trong tiếng việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nhưng theo Tân Hoa Từ Điển thì “áo” có nghĩa là nơi đào lõm xuống, trái với đột nhô lên. Ví dụ “ ao đột bất bình” ( lõm lồi không phẳng). Trong khi đó theo JFM Genibrel thì “ao” là một từ Nôm, tức là một từ thuần việt được ghi bằng chữ Nôm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ “ao” là một hiện tượng của văn hóa Tày-Việt một hình thức giữ nước.
Theo giáo sư Từ Chi thì cơ chế thủy lợi của người Mường hiện này như sau: mỗi Mường là một thung lũng hẹp có nhiều “quel”. Từ “quel” vốn bắt nguồn từ kavel-tiếng Chứt sau biến thành: kavel> quel>quen> quê dùng để chỉ đơn vị cư trú của một làng ở người Việt, một bản ở người Thái. Trong tiếng iệt hiện nay còn giữ lại hai từ biến dạng với sự phân bố ngữ nghĩa khác nhau: quen – người quen, người cùng quê và quê – nới sinh ra mình, nhà quê chỉ người ở nông thôn… Mỗi quel có mọt địa vực cư trú riêng, có diện tích ruộng riêng với hệ thống thủy lợi tương ứng. Ruộng trong “quel” được tưới bằng hai nguồn nước: nước ở các con suối nhỏ từ trên núi chảy qua ruộng của từng quel và nước ở suối lớn chảy qua giữa Mường. Đa số ruộng bậc thang ăn nước ở các suối nhỏ chỉ có trong những thời kỳ nhất định, vì vậy người ta phải dùng tới nước suối lớn có quanh năm bằng hệ thống mương-phai-guồng-cọn. Hệ thống của lang đạo Mường đều phải lo điều hành công tác thủy lợi để tránh sự va chạm giữa các quel. Hàng năm cuộc họp lớn nhất của nhà lang là để giải quyết công tác thủy lợi.
ở người Tháu, mương phai là việc của toàn  Mường, do “quan nà” ( quan lo về ruộng) và đội trực phiên sửa chữa mương phái. Hàng năm Mường có lễ “tế phai” cúng thần phai để giúp dân giữ nước làm ruộng.
Mô hình thủy lợi cổ của cư dân Tày-Thái sử dụng ở vùng chân núi được cư dân Việt-Mường đưa xuống  đồng bằng Bắc Bộ và sau đó lan truyền sang cả vùng Trung Bộ. Nhưng do cấu tạo nền tầng đồng bằng Bắc Bộ không bằng phẳng như đồng bằng Nam Bộ, hơn nữ con người đã xuống sớm khi phù sa sông Hồng chưa  phủ kín đồng bằng nên tại đây con người đã đắp đê ngăn từng ô trũng theo những địa giới tự nhiên, và cứ thế lấn dần ra biển từ tây sang đông, từ bắc xuống nam, từ thượng châu thổ tới hạ châu thổ. Do đó đê ra đời rất sớm và cho đến nay nguồn gốc của nó còn chưa được xác định. Đê có thể bắt nguồn từ kỹ thuật đắp phai, đắp thành của người Tày-Thái đem xuống như đê La Thành của Hà Nội ngày nay. Như vậy là đê ra đời do nhu cầu ngăn nước mặn vào đồng và bảo vệ vùng cư trú khỏi nước lũ, chứ không phải nhằm mục đích đưa nước vào ruộng. Nhưng nhờ đê mà người ta đã chia vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thành những ô trũng hình lòng chảo và người Việt-Mường đã áp dụng phương pháp thủy lợi của cư dân Tày-Thái vào những ô trũng đó để khai thác nguồn nước tự nhiên và nguồn nước địa phương. Vì đê có chức năng bảo vệ vùng cư trú nên các tù trưởng đã kết hợp đê với thành ở những địa điểm họ dùng làm trụ sở.
Về phương pháp đắp thành giữ người Việt và người Thái là giống nhau. Ngày nay ta có thể quan sát thấy sự giống nhau giữa thành Cổ Loa của người Việt và thành Xám Mứn của người Thái. Ngày nay nhiều nhà khoa học đã tìm thấy nhiều tên gọi ở Cổ Loa là tên Tày –Thái. Điều đáng chú ý ở đây là  với hệ thống đê điều trên vùng đồng bằng bắc bộ, nước sông Hồng không được sử dụng, mặc dù người ta biết rõ giá trị của phù sa.
Trong kỹ thuật canh tác trồng lúa còn có một khâu quan trọng: đó là việc cấy lúa. Kỹ thuật này đối lập vớ phương pháp gieo thẳng vốn là phương pháp trồng lúa ở vùng cao, lúa nương. Người Thái gọi “mạ” là cả trước khi cấy thì có dâm mạ “ xắm cả” và sau đó mới cấy “ đăm na”.Những từ như vãi/ ván cả, nhổ mạ/looc cả, dâm mạ/ xắm cả, cầy ruộng/ thay na, bừa ruộng/ban na,.giữa tiếng Việt, tiếng Tày và tiếng Thái đều giống nhau. Người Thái có 3 công cụ cỏ truyền phù hợp với người Việt là: cày/thay, bừa/ ban, thuổng/ lủa. Họ cũng gặt bằng hép như cách gọi của người Việt miền trung. Trong khi làm ruộng mỗi gia đình đều tự làm lấy hết công việc của mình. Nhưng để kịp thời vụ thì họ cần phải giúp đỡ nhau. Người Thái và người Việt đều có chung hình thức mướn công.
Trong việc làm sạch lúa người Việt và Tày-Thái đều có cả một hệ thống dụng cụ giống nhau và cùng tên: cối/ khốc, xay/xí, sàng/ khowng, nong/donoong, vựa/phịa
Các món ăn chế biến từ gạo và cách nấu giữ Tày và Việt đều giống nhau: nấu bằng ống tre ta có cơm/khẩu lam, người Thái gọi đồ xôi là nừng khẩu, sang tiếng việt ta có hông xôi. Cả hai đều ăn nếp và dùng chõ đồ xôi. Người Tày-Thái cũng chế biến các món bánh như: bánh tày/ bánh tét, bánh phồng, bún… cả hai đều lấy cốt gạo là rượu bằng phương pháp vi sinh vật. sau này người Việt qua người Thái đã học được cách cất rượu của người Hán. Vì thế là từ lẩu ( tày-thái), rạo ( Mường), rượu ( Việt) đều mượn từ “tửu” của người Hán.
Trong cơ cấu cây trồng của người Việt, người Tày- Thái, ngoài cây lúa là nhân vật trung tâm, còn có cả một hệ thống cây trồng có thể phân thành 3 loại: rau củ, cây ăn quả, cây làm nguyên liệu chế biến. Phần lớn cả ba loại cây đó, tên gọi giữa Tày Thái  và Việt đều giống nhau. Rau củ như môn/bôn, đậu/thùa, bí ử/mạc ứ, cà/khứa, rau muống/ phắc buống,, cải/cạt, mướp/buop… Trong đời sống hàng ngày của người Việt và người Thái có hai loại cây rất thông dụng: cây chuối và cây mía. Hầu như gia đình nào cũng trồng xung quanh nhà vài bụi chuối, vài khóm mía. Trong quan niệm của người Thái thì cây chuối, cây mía là tượng trưng cho “cái minh, cái nén” của chủ nhà ( minh và nén là hai khái niệm chỉ điểm tựa phần hồn của người Thái và chúng mang tên hồn của người Thái, ở người Việt tục thờ chuối và mía là phổ biến.
Cơ cấu bữa ăn của người Tày Thái và Việt là giống nhau: cơm-rau-cá. Người Thái có câu tục ngữ “khẩu đon tón pa khao” ( cơm trắng khúc cá bạc) tương ứng với cách suy nghĩ của người Việt “có cá làm vạ cho cơm”. Sở thích ăn uống của người Thái và người Việt cũng có nhiều nét tương đồng: ăn chua có nộm/xụm, ăn cá sống có gỏi/ cọi, tiết canh hãm/ lượt cạm, ăn nướng có chả/ chì, thức ăn muối có cá mắm/pa măm, cà ghém/ khắc hóm, quả ớt/ mạc ớt… Các dụng cụ của  nhà bếp từ đôi đũa/thù, bát/ thuội, môi/buôi đều giống nhau.
Trong phức hợp nông nghiệp lúa nước của người Tày Thái và người Việt có nhiều nghề phụ, trong đó có hai nghề quan trọng không thể thiếu được là nữ có nghề dệt vải,  nam có nghề chài lưới. Cơ cấu ngàng nghề này đảm bảo cho lối sống tự cung tự cấp khép kín đến từng gia đình nhỏ-gia đình hạt nhân và tương ứng với cách phân công lao động của một ekip làm việc trên đồng “ chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Người Thái gọi bông vải là phai. Hệ thống các công cụ dệt vải của người Thái và người Việt đều giống nhau: cửi/ki, thoi/xuối, suốt/lót, go/khấu, xa/lá, quặng/quăng, chỉ/xến, kim/khếm… Nghề dệt gắn liền với  cuộc đời của người phụ nữ Thái và Việt. Vải vóc mang lại niềm vui cho con trẻ “ già được bát canh, trẻ được manh áo mới”, trang điểm cho cô dâu đi lấy chồng, cho người già khi trăm tuổi. ở người Việt và người Thái đều dùng lụa đỏ để may áo hoặc khâm niệm cho người chết. Biết dệt và dệt đẹp là tiêu chuẩn không thể thiếu được của con gái Thái và con gái Việt.
Trong khi đó người đàn ông cần phải biết nghề sông nước, chài lưới.  Con trai Thái ngày nay và con trai Việt ngày xưa đều có tục xăm mình như giao long. Trong nghề chài lưới, cả người Việt và người Thái đều có những công cụ và cách đánh bắt cá giống nhau: chủm/ chúm (vó), dăng/chăng, nơm/ xum, ngàm xỉa/ngàm xá… Cả hai dân tộc đều có lối hô cá/hò pa, phà cá/phá pa…để xua cá vào đăng hoặc đuổi bắt. Người Thái cũng quăng chài như người Việt. Đối với cư dân Đông Nam Á thì dân tộc nào cũng biết cách săn bắt cá vì đó là hình thức săn bắt thời kỳ kinh tế tước đoạt, tuy nhiên đi vào trong cơ cấu nghề phụ thì ở Việt và Thái nghề cá không chỉ có bắt mà còn nuôi cá.
Cái ao của người Tày Thái ngoài chức năng giữ nước còn dùng để chăn nuôi. Cơ cấu ngàng nghề này nhằm bảo đảm cho nhu cầu tối thiểu về ăn và mặc. Môt hình chung này in đậm trong đời sống văn hóa và thẩm mỹ của họ. Trong bốn thứ bảo bối mà người Thái truyền lại cho người nối dõi có: mọ nưng ( nồi hông), tín he ( chân chài), ma map ( thanh gươm), lăm ống ( súng ống). Dụng cụ đánh bắt cá được xếp thé hai sau nồi cơm. Trong cách ăn cá cả người Việt và người Thái cũng giống nhau: cả hai đều thích ăn gỏi, nấu cá om, cá kho, cá luộc…và trong cách muối cá mắm cũng có kỹ thuật rất giống nhau: cá+muối+thính+gia vị. Sau này khi người Việt di cư xuống vùng ven biển vẫn dùng kỹ thuật này để làm mắm cá.

22.     Về cơ cấu xã hội và tổ chức chính trị.

Do làm nông nghiệp lúa nước nên cư dân Việt-Mường đã áp dụng mô hình cư trú của Tày-Thái. Các điểm tụ cư của họ thường nằm bên bờ nước và có chút thung lũng đồng bằng.
Người Việt cư trú như người Thái, người Thái coi bên phải là bên sống, bên trái là bên chết do đó điểm tụ cư thường nằm bên hữu ngạn dòng song hoặc suối, còn khu mộ táng thường nằm ở bên tả ngạn.  Theo như những ghi chép của thư tịch cổ Trung Hoa thì cư dân Việt-Mường trong khi áp dụng mô hình kinh tế lúa nước của cư dân Tày-Thái thì cũng đã áp dụng mô hình tổ chức xã hội vùng chân núi hẹp của người Tày trên cơ sở giữ nguyên những tổ chức công xã và những tổ chức trên một công xã có nhiều tộc người do thủ lĩnh các bộ lạc đứng đầu tương ứng với những “bộ” được ghi trong thư tịch cổ của nước Văn Lang.
Đó là một xã hội mà cơ tầng tổ chức gồm hai cấp: Bản –Mường theo cách gọi của người Thái. Bản là một công xã nông thôn, đóng vai trò như một cấu kiện có sẵn gồm những gia đình hạt nhân theo quan hệ huyết thống hay láng giềng và được vận hành theo một chế độ dân chủ công xã, đứng đầu là một “phò” ( bố làng) với hội đồng già làng. Tổ chức này cũng tương tự như plei của ngwofi Bahmar do ông “tởm plei” ( bố làng) và “ braplei” điều hành. Các bản tập hợp thành một Mường dưới sự thống trị của một dòng họ, đứng đầu là một tù trưởng được quyền cha truyền con nối. Đó là mô hình tổ chức xã hội đàu tiên của cư dân làm lúa nước vùng chân núi. Sau này hệ thống chính trị mà ta quen gọi là “ nước”- mà người Thái, người Lào gọi là “mường” cũng bắt nguồn từ tổ chức của các Mường cổ đại.
Trong mường các thành viên gắn bó với nhau bởi nhiều mối quan hệ thuộc tàn dư nguyên thủy, nhưng đã chuyển sang quan hệ bóc lột, quan hệ đẳng cấp xoay xung quanh một cơ cấu xã hội gồm 3 thành tố:
-         Tù trưởng và tầng lớp quý tộc
-         Nông dân
-         Ruộng công
Trong “Giao châu ngoại vực ký” 3 hành tố trên được gọi là : Lạc tướng, lạc dân, lạc điền. Lạc tướng là những từ trưởng có thể là dòng dõi của những thủ lĩnh cầm đầu bộ lạc. Những thủ lĩnh này đã có công khai phá đất đai hoặc chiến thắng trong các cuộc chiến tranh nên được các thành viên suy tôn làm  người đại diện. Họ được tập thể trả công và giao cho quyền phân chia ruộng và sử dụng các tài sản dành cho công việc chung. Nhờ năng suất lúa nước cao mà những người này có thể bóc lột được những phần lao động thặng dư của nông dân. Sau này con cháu của Lạc tướng được thừa hưởng quyền mà tập thể dành cho những thủ lĩnh đầu tiên. Ngày nay ở các bộ tộc vùng Tây Nguyên như ở người Eede, chúng ta còn thấy bóng dáng mờ nhạt của người thủ lĩnh ban đầu qua hình ảnh ông Loolan ( người chủ đất) với những tục lệ như: hàng năm người đứng đầu dòng dõi của Poolan đi mở đầu các lễ nghi nông nghiệp chác các làng và họ được nhận những phần quà biếu như sản vật đầu mùa, sản phẩm săn bắn được… Ở người Mường cũng còn lại vài nét thấp thoáng như thế qua việc phân chia phần cho nhà lang.
Theo giáo sư Từ Chi thì chế độ bóc lột ra đời không phải trên cơ sở tư hữu mà trên cở sở công hữu về ruộng đấy bởi vì:
+Đẳng cấp quý tộc đã giữ được thế mạnh và quyền uy của tông tộc mà thống thống trị người lao động, trong khi tầng lớp này bị vỡ vụn ra thành những gia đình nhỏ. Nhờ chức năng quản lý mà cả tầng lớp quý tộc thoát ly khỏi sản xuất nên họ có thể giữ và củng cố được chế độ tông tộc, còn những người bình dân xưa kia do quá trình du canh du cư, lại tụ họp nhau theo các tù trưởng khai khẩn đất hoang nên họ đã không còn giữ được tông tộc.
+Trong công xã, ruộng đất thuộc về của chung, các thành viên đều được nhận một phần ruộng theo sự phân phối định kỳ và được quyền hưởng dụng phần đất đó. Tầng lớp quý tộc đã giành quyền  phân phối ruộng công để bóc lột người lao động dưới hình thức công nạp.
Như vậy xã hội đã phân hóa thành hai đẳng cấp: quý tộc và bình dân, gắn bó với nhau bởi chế độ công hữu về ruộng đất. Trong thư tịch cổ cũng ghi lại cái cốt lõi của mối quan hệ đó “ người cày ruộng đó là lạc dân, người ăn ruộng đó là lạc hầu.
Trong gia đình quý tộc, con cái họ đều được gọi bằng những từ theo tiếng Tày-Thái: con gái gọi là Mỵ nương-mẹ nàng ( tiếng Thái gọi là  Mè Nhình), còn con trai gọi là Quan lang. Các tầng lớp tôi tớ thì gọi là Ti xảo , tiếng Thái gọi là Khỏi đảo.
Sau này do áp lực dân số từ phương Bắc dồn xuống  nên mồ hình xã hội Tày-Thài dần bị phá vỡ, thay vào đó là một mô hình xã hội mới có Lạc vương, lạc hầu, lạc tướng. Còn như chúng ta đã biết, mường là một khái niệm chỉ tổ chức xã hội truyền thống của cư dân Tày-Thái. Đó là một đơn vị gồm nhiều bản: Đứng đàu tổ chức mường là Chẩu Mường ở người Thái, hay Lang Cun ở người Mường. Đứng đầu bản là Phò bản ở người Thái và Lang tạo ở người Mường. Bản của Chẩu mường ở trung tậm hay trụ sở của Mường được gọi là bản Chiềng. Tại bản Chiềng được xây dựng một thành vây quanh chỗ ở của từ trưởng gọi là Viêng.
ở người Thái vùng Tây Bắc Việt Nam khi tích hợp xã hội lớn hơn một mường, tức là gồm nhiều mường trở lên, người ta vẫn dùng khái iệm mường để chỉ các cấp tổ chức hành chính. Ta có “mường phìa”  là bé nhất, Châu mường là gồm nhiều mường khìa, mường luống là mường lớn, đứng đầu nhiều châu mường. Như vậy ta có thể thấy bản-mường là mô hình tổ chức sơ khai nhất của cư dân Tày-Thái. Vì vậy có sở để chúng ta tin rằng chủ nhân của nền văn hóa Phùng Nguyên-Đông Sơn là một tập thể bao gồm nhiều bộ tộc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau, trong đó cư dân nói tiếng Việt-Mường chung đã được hình thành trong quá trình hội tụ và đã áp dụng mô hình kinh tế-xã hội Tày Thái, và người tù trưởng lớn tuổi đầu đã được huyền thoại ghi lại là Vua Hùng. Sau này khi nhà Hán thống trị đất Nam Việt, họ đã xóa bỏ bộ máy chính trị phôi thai đó và áp dụng chế độ quận huyện lên tổ chức mường và biến người tù trưởng của mường thành hào trưởng địa phương, giữ nguyên tổ chức làng bản như đã vốn có.

3=>   Kết luận


Tất cả những điều đã nói ở trên lý giải rõ cho giả thuyết của các nhà khoa học rằng nhóm người nói ngôn ngữ Việt-Mường chung, đã áp dụng mô hình văn hóa lúa nước của người Tày-Thái cổ.  Những dấu vết văn hóa Nam Á trong họ chỉ có thể lưu lại trong ngôn ngữ và văn hóa dân tộc của người Việt-Mường mà hieneh nay còn bảo lưu và mang theo. Văn hóa vật chất được lưu lại trong lòng đất lại phản ánh mô hình văn hóa vật chất của người trồng lú nước cư dân Tày-Thái mà chủ nhân nền văn hóa Phùng Nguyên đã để lại. Những điều ghi chép trong thư tịch cổ hay truyền thuyết về xã hội ban đầu mà ta gọi là thời kỳ vua Hùng, thời Âu Lạc đều là những miêu tả sơ lược về tổ chức hành chính kiểu xã hội Tày-Tháu cổ mà người Viêt-Mường đã áp dụng như được minh chứng ở trên.

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Quan hệ nô lệ của Ấn Độ thời cổ đai

  
Nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ thời cổ đại vẫn luôn là một đề tài hấp dẫn với các nhà nghiên cứu và học giả trên thế giới. Ấn Độ thực sự là một mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu gieo mầm nhiều ý tướng và các công trình nghiên cứu. Một đề tài đã được  rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm đó chính là : “ Chế độ đẳng cấp thời cổ đại  ở Ấn Độ ”. Trong bài này, người viết sẽ chú trọng trình bày những vấn đề về chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ thời cổ đại để làm nổi bật nên những đặc điểm về quan hệ giữa các đẳng cấp.

1.     Sự hình thành chế độ đẳng cấp của nhà nước Ấn Độ thời cổ đại.

Ấn Độ là một bán đáo ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Hymalaya nổi tiếng. Ấn Độ được chia thành hai miền nam và bác lấy dãy nuos Vindye làm ranh giới. Miền bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng – đồng bằng hai con sông này là cái nôi phát triển của hai nền văn minh sông Ấn và nền văn minh sông Hằng vĩ đại trong lịch sử văn minh thế giới cổ đại.
Cư dân Ấn Độ về thành phần chủng tộc gồm 2 loại chính là người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền bắc. Ngoài ra thì cón có một số tộc người khác như Hy Lạp, Hung Nô…dần dần đồng hóa với các tộc người của Ấn Độ.
Từ giữa thiên niên kỷ II đến thiên niên kỷ I TCN, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tác phẩm văn học gọi là Vê Đa-vì vậy thời kỳ này được gọi là thời kỳ Vê Đa. Thời kỳ Vê Đa được chia làm hai thời kỳ nhỏ là Rích Vê Đa cà Hậu Vê Đa. Chủ nhân của thời kỳ Rich Vê Đa là người Dravida, sang thời kỳ hậu Vê Đa thì người Aryan lấn chiếm xuống vùng đất phía nam của người Đravida và làm chủ nhân của thời kỳ này. Phần lớn những người Đravida bị giết hại, một số bị bắt làm nô lệ hoặc là bỏ trốn.
Qua những đợt thiên di xâm nhập giữa các chủng tộc đã dần dần hình thành chế độ đẳng cấp và đẳng cấp Varna ra đời. Là một loại chế độ chủng tính hà khắc dựa trên sự phân biệt chủng tộc, đạo Balamon và luật Manu có ảnh hương sâu sắc tới xã  hội Ấn Độ cổ đại.
 Có lẽ ban đầu chế độ đẳng cấp Varna không xấu xa và nghiệt ngã như những giai đoạn sau. Trước khi người Arrian xâm nhập Ấn Độ thì nơi đây một nên văn minh bản địa có đời sống tương đối cao đã được hình thành. Nhưng những người Aryan khi vào đây họ tự cho mình là một nền văn mình cao hơn bộ tộc Đraviđa. Vì thế mà người Aryan đã dựa vào những truyền thuyết kể về một đấng thần linh tối cao đã tạo nên sự cách biệt giữa các đẳng cấp.
Theo truyền thuyết và chuyện kể thì Brahma là vị thần tối cao. Ngài có quyện lức siêu phàm, tượng trưng cho ý tưởng linh thiêng của con người trước thần linh và con người phải khuất phục và chấp nhận. Thần Brahma đã định ra cho mỗi Varna một vị trí quyền hạn và công việc cụ thể tồn tại vĩnh hằng và bất biến. Trong tác phẩm Rig Vê-Đa nhiều lần đề cập đến bốn đẳng cấp của chế độ Varna là Brahman, Kysatorya, Vaisia và đẳng cấp thứ tư sinh ra là để phục vụ 3 đẳng cấp trên là Sudra. Thần Brahma đã định đoạt số phận của các tầng lớp trên là “ra đời 2 lần” con Sudra là “ra đời một lần”.
Vì sai các Varna ra đời với nguồn gốc khác nhau giữa các đẳng cấp, trong truyền thuyết có giải thích:
“khi các thần chia con người thì họ chia lam mấy mảnh?
Mồm, tay, đùi, chân của con người họ gọi là gì?
Mồm ư? Đó là người Brahman
Tay ư? Đó là người Ksotorya
Đùi ư? Đó là người Vaisia
Còn chân nữa ư? Đó là người sudra.”
Trong luật Manu có miêu tả rằng: “vì sự phồn vinh của các thế giới từ mồm, miệng, tay, đùi và bàn chân của mình, ngài tạo nên thư tự tương ứng Brahman, ksatorya, vaisia và sudra.”. Chính vì vậy, có người sinh ra từ những bộ phận cao quí nhất trên cơ thể hoặc có người được sinh ra từ bộ phận thấp kém nhất trên cơ thể thần, nên có sự khác biệt về nguồn gốc và địa vị xã hội của mỗi người. Dựa vào truyền thuyết thần bí, giai cấp thống trị tìm cách giải thích hợp lí cho sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội. Vì đấng tối cao có sức mạnh vô biên và sự định đoạt của thần thánh là bất di bất dịch và chấp nhận sự sắp đặt của thần có nghĩa là giải thoát “ khi sáng tạo ngài qui định cho mỗi người một phẩm chất nào, ác hại hay vô hại, mềm mỏng hay tàn bạo, thật hay giả thì phẩm chất ấy tự nhiên xâm nhập vào cái ấy”.
Đạo Balamon là một tôn giáo dựa trên những tín ngưỡng dân gian hình thành trong chế độ thị tộc. Sau khi đẳng cấp tăng lữ Blamon xuất hiện thì tôn giáo và triết học gắn với nhau tạo thành giáo lý Balamon. Giáo lý Balamon ra sức biện hộ cho chế độ đẳng cấp cho rằng: đó là chế độ phù hợp với ý nguyện của thần Brahma. Như vậy, đạo Balamon trở thành vị “luật sư” tài ba biện hộ một cách xuất sắc cho chế độ đẳng cấp Varna tồn tại.
Theo như chúng ta biết thì chế độ đẳng cấp không chỉ có ở Ấn Độ mà nó tồn tại ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam…Tuy nhiên không một chế độ đẳng cấp nào lại đặc biệt và điển hình như ở Ấn Độ. Khi bàn về vấn đề đẳng cấp và nô lệ ở Ấn Độ, ngày từ thời cổ đại đã có 2 luồng ý kiến:
+ Luồng ý kiến thứ nhất là của Megaxten, một sứ thần của Xê lơ cút thường trú ở cung đình vương triều Mô-ry-a của Ấn Độ cổ đại đã khẳng định rằng ở Ấn ĐỘ không có nô lệ. Ông nói: “ ở Ấn Độ có một điều đáng chú ý nhất là tất cả mọi người Ấn Độ đều là người tự do, không có người dân Ấn Độ nào là nô lệ”. Sở dĩ ông có ý kiến như vậy vì ông là người Hy Lạp, ông dùng những tiêu chuẩn của người nô lệ ở Hy Lạp để xem xét tình hình nô lệ ở Ấn Độ.
+ Luồng ý kiến thứ 2 là của học giả Cautalia, tác giả của cuốn sách “ Bàn về việc chính trị” cho rằng ở Ấn Độ có đến 15 loại Daxa - có nghĩa là nô lệ, là kẻ địch.
Theo phần lớn các nhà nghiên cứu sau này đều thống nhất là ở Ấn Độ có tồn tại nô lệ, nhưng mà không nhiều lại nô lệ như học giả Cautalia đã đề cập. Tuy nhiên, không phải chỉ tới khi người Aryan xâm lược và thống trị Ấn Độ mới hình thành nên chế độ đẳng cấp mà thực chất ở Ấn Độ đã có chế độ đẳng cấp từ trước đó nhưng chưa rõ ràng và không hà khắc.

2.     Nội dung của chế độ đẳng cấp Varna thời Ấn Độ cổ đại.

Khi nghiên cứu tìm hiểu về chế độ đẳng cấp Varna, chúng ta có thể căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Và tài liệu chính xác nhất là bộ luật Manu. Theo luật Manu thì cư dân Ấn Độ cổ đại được chia làm bốn đẳng cấp theo thứ bậc khác nhau có địa vị xã hội và nhiệm vụ khác nhau đó là Brahman, Ksatarya, Vaisia, và Sudra.
·        Đẳng cấp Brahman ( tên gọi khác là Balamon) bao gồm những người làm nghề tôn giáo
Theo truyền thuyết thì đẳng cấp Brahman là được sinh ra từ miệng của thần Brahma-phần cao quý nhất của cơ thể. Chính vì ”sinh ra từ miệng là phần cao quí và tốt nhât” nên họ được coi là người thay mặt thần Brahma làm các nghi thức tôn giáo. Brahman có nhiệm vụ dạy kinh Vê-Đa và nghiên cứu. Họ được coi là “ ưu tú nhất trong mọi sinh vật, là loại động vật ưu tú nhất trong những loại động vật, là loại động vật có lý tính, ưu tú nhất trong động vật có lý tính là con người, và ưu tú nhất trong loại người là Brahman. Brahman sinh ra sớm nhất và có hiểu biết về kinh Vê-Đa.”
Bằng thuyết này mà đẳng cấp Brahman được thần thánh hóa cho nên vươn cao hơn tất cả sinh vật và đẳng cấp khác. Chính vì vậy mà các Brahman được hưởng mọi sự ưu đãi hơn, tất cả mọi thứ trên thế giới này đều thuộc quyền sở hữu của giáo sĩ Balamon. Do vậy mà tầng lớp tăng lữ Balamon trong xã hội có vai trò và địa vị cao nhất.
Và để chinh phục tình cảm của mọi người thì chế độ đẳng cấp Varna không ngừng đề cao phẩm chất tốt đẹp của Brahman. Khoác cho họ những đức tính, dấu hiệu của người chung thủy, khoan dung,..Vì thế mà Brahaman chiếm được lòng tin của quần chúng nhân dân. 
·        Đẳng cấp Ksatarya bao gồm nhà vua, vương công quý tộc, chiến sĩ những quan lại và viên chức trong bộ máy nhà nước, nắm quyền bính trong tay.
Đẳng cấp Ksatarya là đẳng cấp được hưởng nhiều quyền lợi của xã hội, có của cải. So với đẳng cấp Brahman, đẳng cấp Ksatarya cod khi giàu có hơn rất nhiều, tất nhiên là đẳng cấp này luôn phải chịu sự chi phối và giáo dục của các giáo sĩ Balamon. Một Ksatarya thông minh, sáng suốt là một KsatarYa thường xuyên học hỏi kinh Vê-Đa, biết chăm lo đến việc cúng tế và dâng lễ vật cho Brahman, phục tùng vô diều kiện đẳng cấp Brahman.Nếu trong xã hội đẳng cấp Brahman được coi trọng nhờ học tập và tri thức thì đẳng cấp Ksatarya được trọng phụng với lòng dũng cảm trong chiến đấu. Chỉ bằng chiến thắng nơi trân mạc và tài giỏi cung kiếm, đẳng cấp Ksatarya mới tìm được thấy hạnh phúc, vui sướng và được ca ngợi. Trong quy định của chế độ đẳng cấp Varna, vua là người quang minh chính đại là người khiêm nhường, tôn trọng Brahman…Với thanh gươm của mình Ksatarya là những người đem lại sự bình yên cho đất nước thoát khỏi bóng ma của chiến tranh. Một đẳng cấp đã lấy chính thân thể ưu tú của mình để sẵn sàng hi sinh, bảo đảm cho cuộc sống của những người khác đó chính là những hành động cao cả nhất. Chính vì vậy trong chế độ đẳng cấp trách nhiệm của mọi người là yêu kính vua, tôn trọng vua…
Đẳng cấp Ksatarya mặc dù được cả thiên hạ kinh nể nhưng không vì thế mà lại kiêu ngạo, lười biếng học tập: ”không có Brahman thì Ksatoria không thể thành đạt được. Ksatarya được coi là từ Brahman mà ra, vì vậy mà sự ngạo mạn của Ksatarya đối với Brahman là trái với ý muốn của thần và Ksatoria đó sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc”. Coi trọng và tuân phục với học thuyết uyên thâm, có kiến thức của thần thánh trong khi bản thân mình cũng là đẳng cấp cao quý thì Ksatarya hãy coi là một sự hãnh diện chứ không nên coi đá là một sự hạ thấp bản thân. Từ các cách răn dạy này đối với Ksatarya phải tôn kính Brahman, để khẳng định thêm sau này khi nghiên cứu về đẳng cấp thấp kém hơn thì mức độ tôn kính cũng phải cao hơn nhiều khi đứng trước Brahman. Những quy định này đã ăn sâu vào nếp sống của người dân Ấn Độ và chúng ta biết rằng không phải chỉ thời cổ đại mà đến tận ngày hôm nay ở Ấn Độ vẫn luôn luôn  đề cao giá trị, văn hóa, tinh thần vượt trên những giá trị vật chất đơn thuần. Một phẩm chất nữa mà đẳng cấp Ksataria  cần có là sự công minh và nghiêm khắc khi cai trị dân chúng. Bởi theo cách nghĩ của xã hội có đẳng cấp là “ nếu không thi hành đối với những kẻ đáng trừng phạt, những kẻ khỏe sẽ nướng thịt  kẻ yếu như nướng cá bằng cái xiêm”. Để làm được điều đó khi trị vị đất nước nhà vua phải biết kìm chế tình cảm “ông vua kìm chế lòng yêu ghét, giải quyết các công việc theo Dhama thì lòng dân quy tụ như những con sông đổ vào đại dương”. 
Đẳng cấp Ksatarya có rất nhiều quyền lợi trong xã hội như vậy thì nó cũng ra sức bóc lột quần chúng nhân dân. Bởi vậy mà nó đã hợp với đẳng cấp Brahman để hợp thành lực lượng điên cuồng bảo vệ chế độ đẳng cấp Varna và trở thành kẻ thù của quần chúng bị áp bức.
·        Đẳng cấp tiếp theo sau đẳng cấp Ksatarya là đẳng cấp Vaisia.
Đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội Ấn Độ. Đẳng cấp Vaisia bao gồm những người bình dân Aryan làm những nghề khác nhau như sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, làm nghề thủ công (dệt, làm đồ đất nung, trao đổi buôn bán…). So với hai đăng cấp trên thì đẳng cấp Vaisia là đẳng cấp có địa vị thấp kém nhất , do đó phải lao động để cung cấp sản phẩm cho hai đẳng cấp trên, hay nói một cách khác họ là tầng lớp chính tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội. Vaisia phải lao động vất vả và phải đóng thuế nặng nề cho Ksatarya .
Thân phận của Vaisia không cho phép họ được quyền lười biếng, không cho phép họ quay lưng lại với lao động. Cuộc đời của họ có nghĩa khi gắn với ruộng đồng mùa màng và gia xúc. Nếu trong xã hội đẳng cấp Balamon được gắn liền với sự hiểu biết kiến thức kinh Vê-Đa, đẳng cấp Ksatarya gắn với dũng cảm thì Vaisia được gắn với mùa màng, thóc lúa và gia xúc. Vì là đẳng cấp thấp nên họ không có khả năng trốn tránh lao động.
Trong xã hội Ấn Độ, Vaisia la tầng lớp được tiếp xúc với các công cụ tiên tiến nhất về kĩ thuật sản xuất nông nghiêp, thủ công nghiệp,..nhưng họ lại là đẳng cấp bị hai tầng lớp trên bóc lột nặng nề. Họ chỉ biết cặm cụi làm việc như những con ong thợ chăm chỉ mà không biết phản kháng. Có lẽ tư trưởng của họ bị tôn giáo Balamom cảm hóa quá sâu sắc.
·        Ngoài ba đẳng cấp trên thì một đẳng cấp bị coi là thấp kém nhất trong xã hội, bị khinh bỉ và ngược đãi là đẳng cấp Sudra.
 Đẳng cấp Sudra có nguồn gốc từ những bộ tộc người Dravida cổ xưa bị người Aryan chinh phục. Họ bị người Aryan chinh phục nên địa vị của người Đraviđa trong xã hội vô cùng thấp. Và duy nhất trong xã hội đẳng cấp Sudra không bao giờ được đọc kinh Vê-Đa, thậm chí là không được biết, không được nghe. Đẳng cấp Sudra phải làm công việc phục dịch cho 3 đẳng cấp trên. Họ không có quyền tích lũy của cải, cho dù có khả năng làm viêc đó. Bởi vì theo quan niệm của xã hội nếu đẳng cấp Sudra mà giàu có sẽ có thể gây khó khăn cho các đẳng cấp trên, đẳng cấp Sudra không bao giờ nghĩ dến phục dịch các đẳng cấp trên và không có gì nhục nhã hơn khi những người đẳng cấp cao hơn Sudra mà vì nghèo khó hơn Sudra phải đi đến cầu xin Sudra. Vậy nên họ không có một lối thoát nào ngoài việc phải hầu hạ và  phục vụ  “ đối với Sudra, dhacma cao nhất dẫn đến phúc lạc là phục vụ các Brahman chủ nhà đã nghiên cứu về Vê-Đa và được ca ngợi”.
Sudra được phân biệt với nô lệ (Dasa) nhưng họ cũng gần được coi là thân phận nộ lệ, tuy nhiên khác một điều là họ có tư liệu sản xuất và bị đẩy ra ngoài tổ chức công xã nông thôn. Do vậy mà họ là những người nghèo túng nhất và không được luật pháp che chở. Những người Sudra là những người có cuộc sống đày dọa như những con xúc vật có thân hình người. Họ chỉ có thể kết thúc việc hầu hạ phục dịch của mình cho đến lúc sức cùng lực kiệt, chỉ đến khi chết họ mới được giải thoát “sông và suối có thể cạn nhưng những giọt nước mắt của Sudra không bao giờ cạn”.

3.     Sự khác biệt quyền lợi giữa các đẳng cấp

-Về tôn giáo: Chỉ có 3 đẳng cấp trên mới được cúng thần linh và đọc kinh Vê-đa, trong đó chỉ có tầng lớp Balamon mới được giảng kinh Vê-đa và phụ trách việc cúng lễ. Nếu một người Sudra cả gan nghe nén tụng kinh thì sẽ bị thổi thiếc nung chảy vào tau. Vậy nên Ba tầng lớp trên được coi là sinh ra 2 lần, còn tầng lớp Sudra chỉ được coi là sinh ra một lần.
-Về hôn nhân: Chế độ đẳng cấp Varna quy định chỉ nên kết hôn với người cùng đẳng cấp. Tuy nhiên đàn ông ở các đẳng cấp trên có thể lấy vợ ở các đẳng cấp dưới, nhưng phụ nữ ở các đẳng cấp trên không được kết hôn với đàn ông thuộc đẳng cấp dưới.
- Quyền lợi trước pháp luật: Nếu cùng bị phạm tội như nhau thì các đẳng cấp trên được xét xử nhẹ hơn các đẳng cấp dưới. Nếu là nạn nhân thì các đẳng cấp càng cao thì sẽ được bồi thường càng nhiều. Đẳng cấp Brahman được coi là ưu tú nhất, thân thể họ được coi là bất khả xâm phạm. Ngược lại đẳng cấp Sudra là đẳng cấp thấp kém nhất.  Chế độ đẳng cấp Varna đưa ra quy định rạch rọi về hình phạt đối với mỗi đẳng cấp khi vi phạm luật pháp. Ví như, nếu giết hại một người Sudra chỉ bị phạt 1/16 tội giết một Brahman, giết Ksatarya thì bị phat 1/8 khi giết một Brahman và 1/4 khi giết Vaisia. Sudra không được dự việc tế lễ mà thậm chí họ cũng không được bê thi thể của tầng lớp Balamon đặt lên giàn lửa khi làm tế hỏa tảng.
Đối với những người nô lệ mà chủ cho là phạm tội thì chủ có quyền trừng phạt mà hình thức thông thường nhất là đánh đập, xiềng xích, đóng dấu nung đỏ. Nếu chủ giết chết nô lệ cũng không phải là một tội lỗi.
Phần đông nô lệ ở Ấn Độ là người đồng tộc, hơn nữa họ lại xuất thân từ những đẳng cấp khác nhau nên khi đối xử với nô lệ, chủ không thể suy nghĩ đến những vấn đề ấy. Do đó nô lệ có gia đình riêng, cũng chính vì vậy mà quan hệ nô lệ ở Ấn Độ cổ đại không phát triển mạnh như các quốc gia Ai Cập, Hy Lạp. Nô lệ giữ một vài trò rất phụ trong đời sống kinh tế xã hội.
Dưới bốn đẳng cấp này còn có những người tiện dân khác được gọi là Paria, họ bị coi là hạng người đê tiện nhất, ô uế nhất, đáng ghê tởm nhất trong xã hội. Vậy nên họ phải sống cách biệt với xã hội.

ð Kết luận

Như vậy thông qua sự phân công lao động, công việc đối với từng đẳng cấp trong xã hội cổ đại, chúng ta đã thấy được một cách căn bản nội dung của chế độ đẳng cấp Varna. Nội dung cuả chế dộ đẳng cấp Varna, thực chất là sự phân công lao động diễn ra trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Nó đảm bảo quyền lợi của một bộ phận đẳng cấp thống trị trong xã hội Ấn trên cơ sở bóc lột một cách sâu sắc những người thuộc đẳng cấp dưới. Chế độ dẳng cấp Varna không ngừng tăng cường quyền lực cho đẳng cấp Balamon và Ksatarya.
Thông qua những điều được phân tích trên, thì ta có thể vén ra được bức màn của xã hội Ấn Độ cổ đại, nhất là bản chất của chế độ đẳng cấp. Chế độ đẳng cấp Varna duy trì theo “ cha truyền con nối”. Cho dù thời gian trôi đi, hạnh phúc luôn mỉm cười với nhũng người thuộc tầng lớp trên còn nỗi đau bất hạnh và dòng nước mắt vẫn sẽ không bao giờ buông tha cho đẳng cấp thấp kém bị coi là hèn hạ. Từ thờ kì này qua thời kì khac chế độ đẳng cấp tồn tại một cách bền chặt trong xã hội Ấn Độ.
    Chế độ đẳng cấp là hậu quả của chiến tranh đem lại, chính chiến tranh đưa đến sự ra đời của chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và hà khắc nhất trong lịch sử nhât loại. Người Aryan đã biến những kẻ mà mình chinh phục được thành nôi lệ và trong bản thân người Aryan đã có sự phân tách ra thành ba đẳng cấp khác nhau. Trong những người Aryan thì đẳng cấp Vaisia là đẳng cấp bị coi là thấp kém nhất và phải có nghĩa vụ lao động để cung cấp cho 2 đẳng cấp trên “ Brahman sẽ tự biểu hiện sự hạnh phúc, Ksatoria là sự che chở, Vaisia là sự phồn thịnh, Sudra là từ đáng khinh”. 
Một điều nữa cho ta thấy rằng chế độ đẳng cấp Varna là một chế độ bóc lột hà khắc, tàn bạo, với những luật pháp  không thương tiếc quyền lợi và tính mạng của những người thuộc đẳng cấp dưới. Trong xã hội đẳng cấp Vaisia và Sudra “nên khuyến khích Vaisia buôn bán, cho vay lãi, canh tác cũng như chăn nuôi gia súc, khuyến khích Sudra hầu hạ những người sinh ra hai lần”. Những quy định hết sức hà khắc này chính là những yếu tố giúp cho chế độ đẳng cấp tồn tại một cách dai dẳng và ăn vào máu thịt của người dân Ấn Độ. 
Chế độ đẳng cấp Varna đã tạo nên sự che chở cho đẳng cấp Brahman đến nỗi nếu kẻ nào làm cho Brahman phải đổ máu thì bao nhiêu hạt bụi nhuốm máu thì kẻ đó phải bị đày ải xuống địa ngục ngần ấy năm. Qua đây ta thấy sự bất công rõ ràng trong chế độ đẳng cấp Varna và sự bất công của các tầng lớp trên với tầng lớp dưới cùng.
Chính vị vậy mà chế độ đẳng cấp ngoài bảo vệ địa vị thống trị của người Aryan còn là sự bênh vực cho các tầng lớp trên áp bức bọc lột các tầng lớp dưới. Và một điều hết sức bất công và vô lí là luật pháp của chế độ đẳng cấp, thừa nhận cho sự bóc lột của đẳng cấp trên đối với đẳng cấp dưới, coi sự phục vụ của người thuộc đẳng cấp dưới là nghĩa vụ tốt nhất của Sudra, vì thế mà họ phải phục dịch tầng lớp trên vô điều kiện.
Chế độ đẳng cấp Varna đã bước vào lịch sử Ấn Độ cổ đại với một sức mạnh vô cùng lớn mạnh từ thế kỉ này sang thế kỉ khác và nó uyển chuyển tồn tại qua các thời kì lịch sử. Đến thời trung đại chế độ đẳng cấp Varna đã không còn đử điều kiện để thích nghi được như trước và buộc nó phải biển đổi và điều đó dấn đến sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ đẳng cấp Varna sang chế độ Casta.