Trong những ngày từ 6/4 đến ngày 8/4/2012 vừa qua, nhóm sinh viên ngành Việt Nam Học chúng tôi đã có một chuyến đi thực tế điền dã Dân tộc học tại địa bàn xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La.
Mục đích của chuyến đi là tìm hiểu về đời sống gia đình và quan hệ gia đình của đồng bào dân tộc Thái (Trắng), chuyến đi của chúng tôi đã rất thành công dưới sự dẫn dắt và chỉ bảo của các thầy cô trong đoàn, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Bùi Xuân Đính (trưởng đoàn). Và tại đây chúng tôi đã nhận được sự đón tiếp hết sức nhiệt tình của của chính quyền địa phương, sự thân thiện và mến khách của bà con dân tộc Thái (trắng).
Phương pháp Điền dã Dân tộc học là một trong những phương pháp điều tra quan trọng mang lại hiệu quả cao của ngành Dân tộc học và một số ngành khoa học khác, với chuyến đi thực tế điền dã Dân tộc học này, nhóm sinh viên chúng tôi đã có cơ hội được vận dụng những kiến thức cũng như những lý thuyết về phương pháp điền dã Dân tộc học vào thực tế. Nhờ có chuyến đi thực tế tại Sơn La chúng tôi đã có cơ hội được áp dụng, so sánh những lý thuyết đã được học vào thực tế và chúng tôi đã gặt hái được nhiều kiến thức trải nghiệm thực tế vô cùng quý giá và hữu ích.
Chuyến đi đã để lại cho chúng tôi những ấn tượng vô cùng sâu sắc về cuộc sống đầy giản dị và chân thành của bà con dân tộc ở xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La. Đặc biệt là những ấn tượng về truyền thống văn hóa và phong tục tập quán của bà con dân tộc Thái, đó là những nét đẹp về văn hóa truyền thống rất sâu đậm và đầy tính nhân văn.
Trong chuyến đi thực tế đó, nhóm sinh viên chúng tôi đã rất may mắn khi được sống và sinh hoạt cùng gia đình cụ (bà) Lò Thị Sin (sinh năm 1920) và cô Sa Thị Long (sinh năm 1958) là đồng bào dân tộc Thái trắng tại Bản Puôi 1- xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La.
Trong những ngày sống cùng gia đình của cụ Sin chúng tôi đã nhận được sự quan tâm rất ân cần và chu đáo của gia đình, đồng thời chúng tôi cũng học hỏi và tìm hiều được rất nhiều kiến thức về văn hóa, phong tục của người Thái trắng. Và may mắn hơn nữa là trong những ngày chúng tôi sống cùng gia đình, chúng tôi đã được tham dự cùng gia đình một nghi lễ được coi là rất tiêu biểu trong phong tục của người Thái đó là lễ “Làm vía” hay còn gọi là lễ “Buộc chỉ cổ tay”.
Được biết đây là nghi lễ quan trọng đối với người Thái và gia đình người Thái nên chúng tôi đã chọn lễ “Làm vía” của người Thái làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót, do vậy rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của chúng tôi được hoàn thiện hơn.
Xin Chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÃ HUY TÂN VÀ BẢN PUÔI I
Giới thiệu chung về
xã Huy Tân.
Xã Huy Tân
là một xã thuộc vùng 1 của huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La, xã Huy Tân cách trung
tâm huyện khoảng 3km, phía Tây giáp xã Quang Huy, phía Đông giáp xã Tân Lang,
phía Nam giáp xã Huy Thượng, phía Bắc giáp xã Huy Hạ. Có 13 bản; 1.105 hộ; với
4.847 nhân khẩu; nam: 2.401 nhân khẩu; nữ: 2.446 nhân khẩu.
Diện tích.
Xã Huy Tân
có tổng diện tích đất tự nhiên là: 2.101,5 ha. Trong đó:
+ Đất nông
nghiệp: chiếm 1.089,07 ha, gồm có đất chuyên trồng lúa, chuyên trồng hoa mầu,
đất nuôi trồng thủy sản và đất lâm nghiệp.
+ Đất phi
nông nghiệp chiếm: 136,8 ha, gồm có đất ở và đất chuyên dùng khác.
+ Đất chưa
sử dụng: chiếm 861,27 ha, gồm có đất đồi núi chưa sử dụng và đất núi đá không
có cây rừng.
Dân số.
Xã Huy Tân-
Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La gồm có 13 bản, với 1.105 hộ và 4.847 nhân khẩu:
+ Nhân khẩu
Nam: 2.401 người.
+ Nhân khẩu
Nữ: 2.446 người.
Kinh tế:
Kinh tế Trồng trọt:
Tại Xã Huy
Tân kinh tế trồng trọt rất được chú trọng (đặc biệt là kinh tế trồng lúa nước),
người dân nơi đây thưc hiện việc luân canh tăng vụ với nhiều loại cây trồng phù
hợp với điều kiện đất, khí hậu tại địa phương như: Cây lúa nước, cây lúa nương,
cây ngô, cây sắn, cây bông, cây dưa…
Chăn nuôi - thú y:
Xã Huy Tân
có rất nhiều biện pháp hỗ trợ chăn nuôi như: tổ chức củng cố và nâng cao năng
lực cán bộ hoạt động trong ngành thú y ở cơ sở bản, lập kế hoạch tiêm phòng
định kỳ cho vật nuôi… Do vậy kinh tế chăn nuôi của bản đã có những bước phát
triển đáng kể.
Lâm nghiệp:
Xã Huy Tân
là vùng có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 633,99 ha nên xã đã có nhiều chính
sách, biện pháp để bảo vệ rừng như: Tăng cường kiểm tra già soát các hoạt động
khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trên địa bàn, tăng cường công tác phòng
cháy chữa cháy rừng trong mùa khô.
Giao thông, thủy lợi,
tài nguyên môi trường:
Vấn đề giao
thông, thuỷ lợi và tài nguyên môi trường là những vấn đề rất được xã quan tâm
chú trọng phát triển, nhiều con đường mới được mở ra, các công trình thuỷ lợi
mương máng được xây đắp…Bộ mặt cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải của xã ngày
càng được hoàn thiện.
Văn hóa – Xã hội.
Xã Huy Tân
tuy là một xã miền núi nhưng những công tác về giáo dục đào tạo, công tác chăm
sóc y tế, văn hóa, thông tin, thể thao đều được quan tâm, duy trì ổn định. Xã
đã triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa ở khu dân cư”, “phong trào xây dựng bản, gia đình văn hóa” được triển
khai rộng khắp được nhân dân đồng tình hưởng ứng tổ chức và thực hiện.
Các chính
sách xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, công tác chữ thập đỏ được mọi người dân thực hiện nghiêm túc, có hiệu
quả.
Công tác tư
pháp, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống ma túy được triển
khai và thực hiện chặt chẽ, đúng theo quy định.
An ninh quốc phòng.
Xã luôn giữ
vững an ninh, đặc biệt là ngăn chặn việc lén lút tái trồng cây thuốc phiện.
Công tác quân sự- quốc phòng thường xuyên được duy trì, nhất là tinh thần sẵn
sàng chiến đấu, chủ động phòng cháy chữa cháy bảo vệ rừng.
Tuy nhiên
trong những năm qua, xã cũng gặp phải không ít khó khăn và những hạn chế:
+ Năng suất
lúa, ngô chưa đạt yêu cầu, kế hoạch đề ra.
+ Dịch bệnh
gia súc, gia cầm chưa được kiểm soát hiệu quả.
+ Nghề chăn
nuôi thủy sản chưa được sự quan tâm đầu tư phát triển, còn mang tính tự phát,
nhỏ lẻ.
+ Mặc dù có
phong cảnh núi rừng đẹp, mờ ảo trong sương sớm nhưng chưa được khai thác nhiều
về du lịch
Tóm lại,
bên cạnh những hạn chế đó không thể phủ nhận xã Huy Tân là một xã có tốc độ
kinh tế tăng trưởng nhanh, xã đã thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội,
cũng như đảm bảo chất lượng chăm sóc y tế, giáo dục, phong tục tập quán...
1.2.
Giới
thiệu chung về bản Puôi I.
Trước đây,
bộ máy phìa tạo đóng tại trẩn Chiềng- xã Quang Huy, đây là một Mường lớn nàm
ngay cạnh bản Puôi. Lúc đó người dân bản Puôi hay nói dối chống lại các Phìa
Tạo, vì vậy các Phìa Tạo gọi bản là Puôi có nghĩa là nói dối (tiếng Thái gọi là
Puôi, tiếng Mường gọi là Puội).
Bản Puôi có
lịch sử lâu đời, trước đây cả ba bản Puôi 1, Puôi 2, Puôi 3 là 1 bản (gọi bản
Puôi 1). Đến khoảng năm 1992 thì bản Puôi 1 (cũ) được tách ra thành 3 bản: Puôi
1, Puôi 2 và Puôi 3 (do dân số ngày càng đông nên tách ra để dễ dàng quản lí, tổ chức). Ban đầu khi
mới tách về mặt hành chính ra thành ba bản, nhưng tổ chức chi bộ của bản vẫn
không tách mà vẫn hoạt động chung, nhưng đến sau này khoảng năm 2005 thì chi bộ
mới tách ra thành ba chi bộ độc lập.
Hiện nay,
cả ba bản Puôi 1, Puôi 2, Puôi 3 có trên 300 hộ, người dân ở ba bản thuộc ba
tộc người là Thái, Mường, Kinh (Việt) trong đó tộc người thái là chủ yếu. Do
đặc thù cư dân thuộc tộc người khác nhau nhưng có thời gian sống xen kẽ lâu
dài, có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với nhau nên người dân ở cả ba bản đều
sử dụng cả ba ngôn ngữ: Thái, Mường, Việt trong giao tiếp hàng ngày.
Mặc dù hiện
nay ba bản đều có cơ cấu tổ chức riêng nhưng người dân ở đây vẫn coi như là một
bản, họ sống với nhau một cách hoà thuận, đồng ruộng vẫn xen kẽ nhau, khi gia
đình nào đó trong bản có việc vui hay buồn thì người dân ở cả ba bản đều chia
sẻ và giúp đỡ một cách nhiệt tình, họ coi nhau như người một nhà và luôn cho
rằng việc tách từ một bản ra thành ba bản chỉ là để tiện cho việc tổ chức, quản
lí.
CHƯƠNG 2:
NGHI LỄ LÀM VÍA CỦA NGUỜI THÁI TRẮNG
(Ở BẢN PUÔI I- XÃ HUY TÂN- HUYỆN PHÙ YÊN- TỈNH SƠN LA)
Lễ làm vía
(hay lễ buộc chỉ cổ tay) là một nghi lễ quan trọng và quen thuộc trong phong
tục của một số dân tộc ít người, lễ “làm
vía” là một nghi lễ nhằm mục đích giải trừ đi cái xấu, xua đuổi tà ma xung
quanh cuộc sống của người được giải vía. Lễ “làm
vía” của người Thái cũng giống như lễ “Dâng
sao giải hạn” của người Kinh, điểm khác biệt chỉ là địa điểm tổ chức nghi
lễ: lễ Dâng sao giải hạn được tổ chức ở trên chùa, còn lễ Làm vía thì được tổ
chức ở nhà.
2.1. Nguồn
gốc của lễ Làm Vía.
2.1.1. Quan
niệm của người Thái về Nhân Sinh.
Người Thái
với nền kinh tế chính là kinh tế nông nghiệp lúa nước và kinh tế nương rẫy, nên xuất phát từ trong sinh hoạt,
lao động và sản xuất của nền nông nghiệp, con người phải gồng mình chống chọi
với quy luật sinh tồn của tự nhiên. Chính vì lẽ đó đồng bào Thái quan niệm thực
tế mỗi con người đều tồn tại phần hồn và vía song hành và được coi như là một
thực thể siêu hình vô cùng quan trọng. Hồn vía con người luôn gắn bó với thân
xác của cuộc sống đích thực, của đời người từ khi sinh ra cho tới khi lớn lên
và trở về với cõi vình hằng.
Người Thái
cho rằng, đàn ông Thái có 7 vía, đàn bà Thái có 9 vía, khi hồn vía lìa khỏi
thân xác thì con người sẽ không tồn tại (tức là chết), hoặc vía người đó bị lạc
đi mất vài vía thì sẽ ốm đau, bênh tật, tai ương và không gặp may mắn trong
cuộc sống.
Hồn vía của
mỗi con người thường luôn ở bên cạnh con người và ngự trị ở nơi con người cư
trú, vì vậy mà ở trước cầu thang lên nhà sàn của người Thái có đặt một chiếc
giỏ gián giấy màu, đó chính là “bồ đựng
vía” nơi để vía từng thành viên trong gia đình trú ngụ. Ở một số nơi thì có
đặt một bàn thờ nhỏ như: trước cổng vào nhà hoặc đặt ở ngoài vườn để bảo vệ hồn
vía của những người thân trong gia đình và ngăn chặn những vía xấu vào nhà.
Không nằm
ngoài quy luật đó đồng bào người Thái trắng ở huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La cũng
thường đặt một bàn thờ ở trước cổng hoặc ở ngoài vườn của gia đình, bàn thờ đó
để bảo vệ hồn vía của những người thân trong gia đình.
2.1.2. Thời
gian tổ chức lễ Làm Vía.
Đối với
người Thái từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, mỗi một người Thái phải được làm
lễ giải vía nhiều lần (ít nhất là 2 lần trở lên), lễ làm vía thường được tổ
chức khi trong gia đình có người ốm đau, bệnh tật, khi đi xa về, khi bị tai
nạn, làm vía cho phụ nữ khi mới sinh, làm vía cho các cô gái khi chuẩn bị về
nhà chồng, hay làm vía cho những người cao tuổi trong nhà, cho những người đã
mất….
Vía trong
tiếng Thái là “ khoắn” và làm vía hay
gọi vía là “ họng khoắn” là gọi hồn
vía trở về với bố mẹ, vợ con, trở về với thể xác, để vía không đi lang thang
nơi đất khách, nơi bờ suối, bờ sông, đi lạc không biết đường về nhà.
Khi trong
gia đình có em bé mới được sinh ra, vía vẫn còn non nớt, nên gia đình tổ chức
lễ buộc chỉ cổ tay (làm vía) cho trẻ nhỏ khi tròn một tháng tuổi. Khi đó, trẻ
nhỏ còn được đeo một chiếc vòng bạc nguyên chất vào tay hoặc chân để cho khỏe
mạnh, cứng cáp. Bên cạnh đó, khi trẻ nhỏ vẫn còn gùi trên lưng, nếu như đi xa
thì ông bà, bố mẹ thường bôi lên trán trẻ nhỏ một vệt nhọ nhồi với quan niệm
đánh dấu để vía trẻ nhớ theo ông bà, cha mẹ về nhà.
Đối với các
cụ già, vía cũng bước vào tuổi lú lẫn nên nhiều khi vía đi lạc không nhớ đường
về nhà hoặc vía dễ bị ma quỷ bắt đi nên hay đau ốm, bệnh tật nên cũng được làm
vía, làm vía cũng là cách con cháu được báo hiếu với ông bà, cha mẹ cầu mong
ông bà, cha mẹ luôn mạnh khỏe sống lâu. Nếu như ông bà, cha mẹ mới mất thì làm
vía để tiễn đưa hồn vía đi được thanh thản, và tìm đúng đường về với tổ tiên.
Đối với
những cô gái chuẩn bị đi lấy chồng cũng được tổ chức lễ làm vía để chúc mừng và
tiễn sang nhà chồng.
Hoặc khi
gia đình có khách xa đến chơi, người Thái cũng tổ chức lễ làm vía và buộc chỉ
tay cho khách. Vì họ quan niệm, vía có lúc ham chơi mà lang thang quên cả lối
về, hoặc vía lạ bản, lạ mường nên dễ bị ma mãnh xứ người đùa giỡn làm hại. Vì
vậy người Thái làm lễ buộc chỉ cổ tay cho khách để cho vía của khách luôn ở bên
người, cầu giúp cho khách luôn vui vẻ, may mắn suốt dọc đường.
Ở dân tộc
Mường có Lễ “làm ngái”, là một nghi
lễ truyền thống giống như Lễ làm vía của dân tộc Thái (Ngái là loại cây giống
như cây nghệ, củ có lõi màu xanh xẫm). Đồng bào Mường quan niệm, cây Ngái có
sức mạnh siêu hình xua đuổi tà ma ác quỷ nên ở đâu có cây Ngái mọc là ở đó
không có ma quỷ đến quấy phá và làm hại. Vì vậy bà con lấy củ cây Ngái về thái
thành hạt, đặt lên ban thờ làm nghi lễ cúng tế, sau đó xâu vào sợi chỉ theo số
lượng vía của nam hoặc của nữ rồi đem buộc vào cổ tay.
Trong
chuyến đi thực tế tại huyện Phù Yên (Sơn La), nhóm sinh viên chúng tôi cũng
được chủ nhà (gia đình cụ Lò Thị Sin- người dân tộc Thái) tổ chức lễ làm vía và
buộc chỉ cổ tay cho. Tôi nhận thấy đó là một phong tục tốt, ý nghĩa và chúng
tôi luôn cảm thấy may mắn trong suốt chuyến đi của mình.
2.2. Nghi thức của lễ Làm Vía.
Lễ làm vía
có thể tuỳ từng gia đình chia làm các phần khác nhau nhưng chúng tôi nói đến lễ
Làm Vía của gia đình cụ (bà) Lò Thị Sin (sinh năm 1920) làm vía cho cháu trai
Hà Trung Nghiệp được chia làm hai phần: phần thứ nhất là lễ giải vía; phần thứ
hai là lễ cầu phúc lộc, trong đó phần thứ nhất lễ giải vía là quan trọng nhất.
2.2.1. Lễ
Giải Vía.
2.2.1.1.
Quá trình chuẩn bị.
Bước 1: Đầu
tiên Gia đình cử một người tới nhà thầy Mo nhờ thầy Mo chọn ngày lành tháng tốt
để tổ chức lễ làm vía. Thầy Mo nào xem ngày là thấy Mo đó sẽ là người tiến hành
nghi lễ làm vía.
Bước 2:
Chuẩn bị lễ vật.
Lễ vật gồm:
một con gà trống luộc chín để nguyên con, 2 bát cơm, 7 ly rượu, 1 ly gạo, 1 bát
nước canh, 1 bát nước lã, 1 đĩa trầu cau và tiền đen, 1 con dao, tất cả được
đặt trên một cái mâm, dưới mâm đặt 9 thứ lá gai.
Lễ vật cho
lễ giải vía nhất thiết phải có gà trống và đủ 9 loại lá gai, lá gai này là loại
lá gì cũng được nhưng phải là cây có gai như: cây tre, cây mây, cây găng…. các
loại lá này có thể được lấy xung quanh nhà hoặc là lấy trong rừng.

Hình 1: Thầy
Mo và mâm lễ giải vía .
Trên đây là
những lễ vật cơ bản cho một lễ làm vía, nhưng tùy theo từng gia đình khi họ nhờ
thầy Mo xem thấy ma quỷ trong nhà có đòi hỏi những lễ vật khác như: Ngựa,
Thuyền hay quần áo… thì gia đình sẽ chuẩn bị thêm những lễ vật đó để cúng cho
hồn ma mang đi và không quay trở lại đòi hỏi và làm hại gia đình nữa.
Đồng thời
cũng tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình mà tổ chưc lễ làm vía to hay nhỏ. Nếu
là lễ tổ chức to thì gia chủ có thể giết trâu, mổ bò mời họ hàng anh em tới ăn
uống linh đình.
2.2.1.2
Tiến hành nghi lễ.
Đầu tiên
chọn nơi để mâm lễ vật: mâm lễ vật được bày ở gian ngủ của người được giải vía,
nếu là giải vía cho cả gia đình thì lễ vật sẽ được đặt ngoài sân và cũng tiến
hành làm lễ ở ngoài sân.
Thầy Mo tay
cầm chiếc quạt và ngồi bên cạnh mâm lễ đọc niệm chú bằng tiếng Thái, thi thoảng
thầy Mo lại dùng quạt quạt mấy cái để xua tà ma.
Điều đặc
biệt trong lễ làm vía là không có thắp hương vì đây là làm lễ cho người đang
sống, không liên quan tới những người đã mất trong gia đình. Chính vì vậy mà
trên ban thờ của gia đình cũng không đốt hương và bày một thứ lễ vật gì.
Thầy Mo
tiến hành nghi lễ phải là một thầy Mo to và có nhiều khả năng (thầy Mo không nhất thiết phải là người Thái
trắng) mà có thể thầy Mo là người Mường, hoặc là các dân tộc khác sống lân cận.
Như vậy là không có sự phân biệt dân tộc giữa thầy Mo và gia đình làm lễ. Cụ
thể trong lễ giải vía tại nhà cụ Lò Thị Sin là thầy Mo: Đinh Văn Hiệp- dân tộc
Mường, người bản Cứu đã có 10 năm kinh nghiệm trong nghề Mo.
Không phải
ai cũng có thể trở thành thầy Mo, mà để trở thành thầy Mo phải là người mà gia
đình có truyền thống làm Mo từ nhiều đời truyền lại cho con cái. Thứ hai nữa là
phải có căn cơ với nghề Mo thì mới có thể giao tiếp được với thần linh. Thầy Mo
to là người có thể tiến hành được rất nhiều các nghi lễ khác nhau từ tang ma,
làm vía, cầu siêu….
Trong nghi
lễ thầy Mo không có trang phục làm lễ riêng (mặc quần áo bình thường), và người
Thái có suy nghĩ là trang phục của thầy Mo thế nào không quan trọng mà quan
trọng là khả năng của thầy Mo đó như thế nào, có thể giao thiệp được với ma quỷ
và thần linh hay không.
Trong quá
trình thầy Mo làm lễ thì người được làm vía không nhất thiết phải có mặt để làm
lễ cùng, sau khi thầy Mo làm lễ song thì người được làm vía mới cần có mặt để
thầy Mo buộc chỉ tay. Thầy Mo là người buộc chỉ tay cho người được làm lễ đầu
tiên, rồi lần lượt tới các thành viên trong gia đình buộc cho. Trong khi buộc
chỉ tay, thầy Mo khấn “bốn mươi hồn vía
trước, năm mươi hồn vía sau, ở chốn nào thì hãy về đây với cha mẹ, người thân
sống đền đầu bạc tóc bạc” (bài khấn đã được dịch ra tiếng việt, còn khi làm
lễ thầy Mo khấn bằng tiếng Thái).
Ví dụ:
Người được làm lễ là con trai của chủ nhà thì sau khi thầy Mo buộc chỉ tay xong
thì đến bố mẹ, rồi đến ông bà, rồi đến chú bác cô dì, rồi đến anh chị em ruột
trong gia đình.


Hình 2: Hà Trung Nghiệp đang được thầy Mo và mẹ buộc chỉ vào cổ tay.
Nếu làm lễ
cúng vía cho cháu thì sau thầy Mo buộc chỉ là ông bà, rồi đến bố mẹ, đến chú,
bác, cô, rồi đến anh chị em ruột trong nhà buộc chỉ cho người cháu đó.
Chú ý: nếu
là làm lễ cho người già trong nhà thì con dâu và con rể không được phép buộc
chỉ cho người được làm lễ.
Trong nghi
lễ không quy định số chỉ buộc tay là bao nhiều, nhiều hay ít phụ thuộc vào số
lượng các thành viên trong gia đình. Trước khi tiến hành buộc chỉ tay, thì cuộn
chỉ phải được làm lễ để xin ban cho quyền năng của thế lực siêu nhiên nhập vào
phù hộ cho con người giữ được vía, được hồn luôn khỏe mạnh, tránh được tai
ương, ma quỷ nhìn thấy chỉ buộc ở cổ tay sẽ không dám làm hại hồn vía con người.
Khi làm lễ xong, chỉ được buộc vào cổ tay (Nam chập 7 sợi chỉ và buộc vào cổ
tay trái, Nữ chập 9 sợi buộc vào cổ tay phải). Màu sắc chỉ buộc tay phụ thuộc
vào người được làm vía là người sống hay người chết, nếu là làm vía người sống
thì được buộc chỉ đỏ, nếu làm lễ cho
người chết thì chỉ buộc tay là màu đen.
Sau khi kết
thúc lễ làm vía những lễ vật mà hồn ma đòi hỏi như Ngựa, Thuyền, quần áo… sẽ
được mang ra sông hoặc ra suối dải theo dòng nước. Còn những loại lá gai thì
được buộc gọn thành một bó và treo lên trên cửa chính vào nhà, với ý nghĩa là
ma quỷ không thể vào nhà làm hại người sống được nữa và với ý nghĩa mọi người
đi qua cửa phải cúi đầu thể hiện sự không thua kém ai của chủ nhà và sự kính nể
của mọi người với chủ nhà. Kết thúc Lễ làm vía là Lễ cầu phúc lộc, may mắn.

Hình 3: Chủ
nhà treo những loại lá gai trong lễ cùng Vía
2.3. Lễ Cầu Phúc
2.3.1.
Chuẩn bị lễ vật:
Mâm lễ cầu
phúc gồm một con Chó luộc chín để nguyên cả thân bày cùng các bộ phận khác (nếu
không có Chó thì bày mâm lễ bằng Vịt), một bát nước canh, 1 bát mắm, 1 bát gạo
cắm 3 nén nhang, 2 bát cơm, 1 đĩa Trầu cau và Tiền đen, 1 cây Đèn dầu, một bát
nước và vài nhánh cỏ, 3 chén rượu, 4 xấp vải đặt trên đầu mâm lễ (chú ý lễ vật bắt
buộc phải làm bằng thịt Chó hoặc là thịt Vịt không thể thay thế bằng thịt các
loại con vật khác).
Bốn xấp Vải
đặt phía trên mâm lễ là quà cho những ma quỷ mang theo, không quay lại làm hại
gia đình, một bát nước và vài nhánh cỏ ở trong bát nước là để khi thầy Mo làm
lễ xong sẽ vẩy nước quanh nhà để làm mát nhà và xua đuổi tà ma, mang lại sự may
mắn cho gia đình.
2.3.2. Tiến
hành nghi lễ.
Mâm lễ vật
được đặt ở giữa nhà và thầy Mo ngồi bên mâm lễ miệng đọc thần chú (thần chú là
những lời cầu mong sự may mắn cho gia đình người cúng Vía), trong quá trình làm
lễ người nhà không cần có mặt để làm lễ cùng thầy Mo. Sau một hồi thầy Mo đọc
thần chú làm lễ xong thì cầm bát nước có vài nhánh cỏ đi vẩy xung quanh nhà và
vẩy vào những người trong gia đình (người Thái có quan niệm rằng bát nước ấy đã
được thần linh ban may mắn cho nên khi được thầy Mo vảy nước đó vào người là
mọi người trong gia đình sẽ được may mắn), sau khi vảy nước xong thì thầy Mo
vứt những nhánh cỏ ra vườn (tức là mang may mắn cho cây cối trong vườn được
xanh lá, sai quả).
Sau khi
thầy Mo đã hoàn tất xong cả hai phần nghi lễ: lễ giải vía và lễ cầu phúc thì
gia đình bắt đầu được thụ hưởng lễ vật.
2.4. Qúa trình hưởng thụ lễ vật.
Có một điều
đặc biệt rằng vào những ngày trước khi gia đình tổ chức lễ làm Vía nếu như anh
em họ hàng có muốn giúp đỡ gia đình trong quá trình chuẩn bị lễ vật: như tiền
nong, gạo, muối… thì phải đưa đến trước ngày làm vía. Đến hôm làm vía anh em họ
hàng chỉ đến người không để ăn uống hưởng thụ lễ vật, không được mang theo bất
cứ cái gì đến (vì người Thái trắng quan niệm rằng khi họ đã làm Vía để giải trừ cái xấu đi rồi mà ai đó mang cái
gì đến là mang sự xấu, điều xấu đến cho họ). Sau khi ăn uống xong cũng không ai
được mang đồ thừa về nhà, có thể bữa ăn tiếp theo lại đến ăn để cho hết những
lễ vật đó.
Trong quá
trình hưởng thụ lễ vật người Thái trắng rất quan trọng vị trí ngồi giữa các
mâm, mâm cao nhất trong nhà là mâm dành cho những người lớn tuổi trong gia đình
và họ hàng ngồi (thầy Mo cũng ngồi mâm này), trong mâm này được đặt 2 chén rượu
cúng và rượu được chia đều cho các thành viên trong mâm hưởng thụ (các mâm khác
không có chén rượu này).
Mâm ngay
cạnh ban thờ chiếu xuống là mâm của chủ gia đình và những người con trai trong
gia đình, nếu gia đình còn có bố thì vị trí gần ban thờ nhất là của ngưới bố, nếu
không còn bố thì vị trí đó dành cho con trai cả, nếu không còn con trai cả (hoặc
không có con trai cả) thì vị trí đó sẽ dành cho con trai nuôi, con trai thứ và
út không được ngồi vào vị trí đó. Người Thái trắng có phong tục nhận con nuôi,
chính vì vậy nếu như con trai cả trong gia đình không còn thì con trai nuôi có
vị trí quan trọng hơn những người con trai khác trong gia đình, chủ nhà cũng
được gọi bằng tên con trai nuôi, không được gọi bằng tên của mình và tên của
chồng (ngay cả khi chồng còn sống hay đã chết).
Cụ thể là
cô Sa Thị Long có người con trai nuôi tên là Thắng, con trai cả của cô đã mất
nên mọi người gọi cô là cô Thăng- gọi theo tên con trai nuôi.
Những mâm
tiếp theo cứ theo thứ tự vai vế trong gia đình dòng họ mà ngồi. Mâm ngồi gần
cửa chính nhất là mâm của con dâu, và các cháu nhỏ.
Trong một
mâm cơm của người Thái cũng có phân chia rõ vai vế trong gia đình, những người
lớn hơn trong nhà, trong họ thì được ngồi quay lưng về phía ban thờ, những
người con gái còn trẻ chưa lập gia đình thì không được ngồi quay lưng về phía
ban thờ. Nếu nhà có khách là những người ngoài thì cũng không được ngồi quay
lưng về phía ban thờ và không được ngồi ở phía trên của mâm cơm.
2.5. Ý
nghĩa của lễ Làm Vía.
Tục làm Vía
đã tồn tại lâu đời trong đời sống của bà con dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung
và đồng bào Thái trắng ở huyện Phù Yên (Tỉnh Sơn La) nói riêng. Lễ làm Vía thực
chất là việc anh chị em trong gia đình, họ hàng, láng giềng khích lệ người được
làm Vía để họ phấn chấn, vui vẻ vượt qua những tai ương trong cuộc sống, là
cách cộng đồng thể hiện sự quan tâm đến một cá nhân nào đó.
Đối với
người đã chết thì lễ làm vía có nghĩa tiễn đưa linh hồn người chết được siêu
thoát và bình yên sang thế giới bên kia đoàn tụ cùng tổ tiên. Đồng thời có chức
năng an ủi tinh thần những người sống sau những đau buồn và mất mát khi gia
đình có người chết.
Đối với
những vị khách lạ của gia đình như khách du lịch, người từ nơi khác đến chơi
thi người Thái tổ chức lễ làm vía và buộc chỉ cổ tay là cách thể hiện lòng thân
thiện, sự mến khách, hiếu khách của người Thái.
Như vậy tục
làm vía (hay đeo chỉ buộc tay của người Thái) hay tục làm “Ngái” của người Mường đều là những nghi thức cầu an truyền thống
mang những nét tương đồng trong văn hóa của một số dân tộc ít người ở vùng đât
Tây Bắc. Những nghi thức này không gây tốn kém về tiền bạc, vật chất, cũng
không phải là mê tín dị đoan, nó chỉ đơn thuần là một nghi lễ cầu an, cầu phúc
rất nguyên bản và sơ khai.
Chính vì
vậy theo chúng tôi là nhà nước, chính quyền địa phương cần có những chính sách
bảo tồn và phát triển những nét đẹp, văn hóa đặc sắc và mang tính đặc thù riêng
của các dân tộc thiểu số như thế này, để những truyền thống văn hóa tốt đẹp và
không gây hại như thế này được duy trì và tồn tại mãi mãi.
KẾT LUẬN
Tôn giáo,
tín ngưỡng, phong tục, tập quán... luôn gắn với sự ra đời của mỗi tộc người, đó
là những yếu tố góp phần làm nên bản sắc riêng để phân biệt giữa các tộc người
với nhau, tuy nhiên trong sự giao lưu kinh tế, văn hóa không thể tránh khỏi sự
giao thoa, nhưng cũng chính sự giao thoa ấy đã làm cho các nền văn hóa xích lại
gần nhau hơn, dễ hiểu hơn, dễ được chấp nhận hơn, nhất là trong thời đại công
nghiệp hoá, hiện đại hoá mới mẻ hiện nay.
Làm vía là
một phong tục đẹp của người Thái (trắng) ở Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La. Nó thực
chất là việc anh em họ hàng động viên, khích lệ người được làm vía để họ phấn
chấn, vui vẻ vượt qua những tai ương trong cuộc sống, là cách cộng đồng thể
hiện sự quan tâm đến một cá nhân nào đó theo tinh thần “mọi người vì một người”, gạt đi những hủ tục còn ít nhiều rơi rớt,
phần tốt đẹp của phong tục này chính là sự cố kết cộng đồng, buổi Làm Vía là
nơi mọi người gặp nhau, chuyện trò, thắt chặt hơn tình cảm anh em, tình cảm xóm
giềng, “Đất sống” của những giá trị
tinh thần ấy nằm trong nếp sống, nếp nghĩ và tâm hồn của chính những người con
mỗi bản Thái.
Qua chuyến
đi thực tế tại bản Puôi I - Xã Huy Tân- Huyện Phù Yên- Tỉnh Sơn La chúng tôi đã
được sống cùng và học hỏi được rất nhiều điều từ đồng bào dân tộc Thái nơi đây,
và mặc dù thời gian không dài (chỉ có 3 ngày) nhưng như vậy cũng đã là điều rất
may mắn và hạnh phúc cho chúng tôi. Điều may mắn hơn nữa là chúng tôi được tham
gia, chứng kiến toàn bộ quá trình diễn ra lễ cúng Vía tại nhà mà chúng tôi ở
nhờ (nhà Cô Sa Thị Long).
Chúng tôi
nhận thấy đây là một nét văn hóa đặc sắc của người Thái ngày nay vẫn còn tồn
tại song đang có sự mai một dần dần.Chính vì vậy chúng tôi nghĩ cộng đồng cần
phải đóng góp phần nào đó vào để bảo vệ giá trị văn hóa tốt đẹp đó (hay cũng
như những giá trị văn hóa của dân tộc mình), bằng cách cần phát động các phong
trào, các tổ chức bảo vệ các phong tục, tập quán, các nét văn hóa đẹp, nêu cao
tinh thần trách nhiệm của mình và của cả cộng đồng đối với phong tục tập quán
của các dân tộc nói chung và lễ Làm Vía của dân tộc Thái nói riêng.
Qua chuyến đi thực tế này,
chúng tôi không chỉ học hỏi được cách làm việc nghiêm túc, chu đáo của các Thầy
Cô mà hơn hết chúng tôi đã dược đưa những lý thuyết trên lớp vào thực tế, và
thu được nhiều kiến thức mới bổ ích, từ đó chúng tôi thêm hiểu, thêm yêu văn
hóa của người Thái nói riêng và của các dân tộc trong đất nước nói chung.







