Lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia
Đông Nam Á đã chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa-văn minh trong khu vực
và trên thế giới. Văn minh Ấn Độ đã có sự
ảnh hưởng gần như sớm nhất và sâu sắc nhất đối với các nước Đông Nam Á này trên
nhiều bình diện về văn hóa xã hội. Ấn
Độ được coi là cội nguồn cảm hứng tôn giáo Balamon giáo và Phật giáo duy nhất đối với gần như cả khu vực
Đông Nam Á. Cũng từ Ấn Độ, nghệ thuật điêu khắc tạo hình của các
công trình tôn giáo này cũng được du nhập vào Đông Nam Á. Một trong những di sản
đó là cả một truyền thống về nghệ thuật tạo hình hết sức độc đáo, mà nổi bật hơn cả là ở
lĩnh vực nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc.
Không ít những công trình kiến trúc, điêu khắc thời cổ đã trở thành những kiệt tác tạo hình của một số quốc gia
Đông Nam Á hôm nay. Có nhiều công trình kiến
trúc đã được UNESCO công nhận và đưa vào danh sách các di sản văn hoá thế giới. Dưới đây người viết xin
trình bày những hiểu biết của mình về sự ảnh hưởng của kiến trúc điêu khắc Ấn Độ
đối với các nước Đông Nam Á.
I.
Tìm hiểu
nghệ thuật tạo hình của Ấn Độ.
11. Khái niệm nghệ thuật tạo hình.
Nghệ thuật tạo hình hay
còn gọi là nghệ thuật hình khối, bao gồm nhiều
lĩnh vực như: Hội họa, kiến trúc, điêu khắc,... Ngay từ khi mới xuất hiện và trong
suốt quá trình phát triển của chúng, hai loại hình này luôn có sự liên quan chặt
chẽ vơi nhau. Với nghệ thuật tạo hình, chất liệu cổ xưa nhất và cũng quan trọng
nhất là đá, đất nung (gốm), gỗ, kim loại, sau đó là giấy và vải,…
lĩnh vực như: Hội họa, kiến trúc, điêu khắc,... Ngay từ khi mới xuất hiện và trong
suốt quá trình phát triển của chúng, hai loại hình này luôn có sự liên quan chặt
chẽ vơi nhau. Với nghệ thuật tạo hình, chất liệu cổ xưa nhất và cũng quan trọng
nhất là đá, đất nung (gốm), gỗ, kim loại, sau đó là giấy và vải,…
22. Khái quát nghệ thuật tạo hình Ấn Độ.
Nền nghệ thuật tạo hình
Ấn Độ vĩ đại và hoành tráng khởi đầu từ thời vua
A Dục (Ashka) khoảng năm 272 - 231 trước CN. Điển hình của nghệ thuật thời
này phải kể đến nghệ thuật Phật Giáo với những “chiếc cột vũ trụ” là sự hoà
điệu kiến trúc, điêu khắc Phật Giáo và yếu lý kinh Vệ Đà. Trên những chiếc cột
này, những bài kinh Phật, hình Phật, bánh xe luân hồi, núi Tu Di, toà sen và
những biểu tượng Phật Giáo là nổi bật nhất.
Bên cạnh đó là kiến trúc chùa tháp với các hình chạm khắc tinh tế. Nghệ
thuật tạo hình Ấn Độ rõ nét trong việc kiến tạo các Tịnh xá (Vihara), Chánh điện
(Chaiya). Theo giới nghệ thuật Ấn, hình tháp là biểu trưng Đại Niết Bàn của đức
Phật (Pari Nirvana). Trong các bảo tháp dạng này, nổi tiếng nhất là bảo tháp
Sanchi, bảo tháp Bharhurt và bảo tháp Amaravati. Điêu khắc ở bảo tháp Sanchi
trình bày hình tượng tiền thân đức Phật, dựa theo Túc Sanh Truyện. Bảo tháp
Bharhurt nặng về nghệ thuật tạo hình cách điệu, trong khi đó thì bảo tháp
Amaravati thể hiện tượng Phật Tượng Tam Thế: Quá khứ, hiện tại, vị lai (đức
Phật A Di Đà, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc
Tôn Phật); Di Đà Tam Tôn: Phật A Di Đà (Amitabha) ở giữa; đức Đại Thế Chí
Bồ Tát (Maha Sthanaprata) ở bên trái; đức Quan Thế Âm Bồ Tát
(Avalokitesvara) ở bên phải; tượng Thế Tôn: Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
(Cakyamonni) ở giữa; đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjucri) ở bên trái; đức
Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (Samantaghadha) ở bên phải.
Vào triều đại Gupta, khi Phật Giáo Ấn Độ lùi về phát triển nông thôn thì
kiến trúc “hang động”. Công trình tiêu biểu nhất là hàng loạt hang động Ajanta,
là mô hình tịnh xá truyền thống Ấn Độ được bảo lưu đến ngày nay. Kiến trúc
này biểu hiện tính đa thần, theo phong cách “tiền Phật, hậu Thần” hay “tiền
Thần, hậu Phật”. Do đó, các chủ đề cũng như nội dung của điêu khắc và hội họa
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo. Nhiều tác phẩm mang đậm tính chất
Phật giáo ra đời, cả về hình thức lẫn nội dung. Hàng loạt các tác phẩm tranh trên
tường, tranh trên giấy, gỗ, vải,… có mục đích tôn giáo là minh họa cho các kinh
sách Phật giáo.
A Dục (Ashka) khoảng năm 272 - 231 trước CN. Điển hình của nghệ thuật thời
này phải kể đến nghệ thuật Phật Giáo với những “chiếc cột vũ trụ” là sự hoà
điệu kiến trúc, điêu khắc Phật Giáo và yếu lý kinh Vệ Đà. Trên những chiếc cột
này, những bài kinh Phật, hình Phật, bánh xe luân hồi, núi Tu Di, toà sen và
những biểu tượng Phật Giáo là nổi bật nhất.
Bên cạnh đó là kiến trúc chùa tháp với các hình chạm khắc tinh tế. Nghệ
thuật tạo hình Ấn Độ rõ nét trong việc kiến tạo các Tịnh xá (Vihara), Chánh điện
(Chaiya). Theo giới nghệ thuật Ấn, hình tháp là biểu trưng Đại Niết Bàn của đức
Phật (Pari Nirvana). Trong các bảo tháp dạng này, nổi tiếng nhất là bảo tháp
Sanchi, bảo tháp Bharhurt và bảo tháp Amaravati. Điêu khắc ở bảo tháp Sanchi
trình bày hình tượng tiền thân đức Phật, dựa theo Túc Sanh Truyện. Bảo tháp
Bharhurt nặng về nghệ thuật tạo hình cách điệu, trong khi đó thì bảo tháp
Amaravati thể hiện tượng Phật Tượng Tam Thế: Quá khứ, hiện tại, vị lai (đức
Phật A Di Đà, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc
Tôn Phật); Di Đà Tam Tôn: Phật A Di Đà (Amitabha) ở giữa; đức Đại Thế Chí
Bồ Tát (Maha Sthanaprata) ở bên trái; đức Quan Thế Âm Bồ Tát
(Avalokitesvara) ở bên phải; tượng Thế Tôn: Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
(Cakyamonni) ở giữa; đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjucri) ở bên trái; đức
Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (Samantaghadha) ở bên phải.
Vào triều đại Gupta, khi Phật Giáo Ấn Độ lùi về phát triển nông thôn thì
kiến trúc “hang động”. Công trình tiêu biểu nhất là hàng loạt hang động Ajanta,
là mô hình tịnh xá truyền thống Ấn Độ được bảo lưu đến ngày nay. Kiến trúc
này biểu hiện tính đa thần, theo phong cách “tiền Phật, hậu Thần” hay “tiền
Thần, hậu Phật”. Do đó, các chủ đề cũng như nội dung của điêu khắc và hội họa
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo. Nhiều tác phẩm mang đậm tính chất
Phật giáo ra đời, cả về hình thức lẫn nội dung. Hàng loạt các tác phẩm tranh trên
tường, tranh trên giấy, gỗ, vải,… có mục đích tôn giáo là minh họa cho các kinh
sách Phật giáo.
Nhìn chung, nghệ thuật
Phật Giáo góp phần củng cố những nguyên lý bất
diệt của tôn giáo, cùng với sự phát triển và phong cách của nó, duy trì toàn bộ
cho lịch sử tôn giáo, 2 đặc tính này không thể tách rời nhau. Với tín đồ, xây
chùa, đúc chuông, đúc tượng và những cúng dường cho các đền chùa là một
trong những phương tiện căn bản cho người tu tại gia có thể tạo được một nhân
sinh quan và nhận thức quan hướng Phật. Trong nền nghệ thuật này, phải kể đến
những kiến trúc chùa tháp, điêu khắc, trang trí, đồ họa trong chùa chiền,... tất cả
tạo cảnh quan cần thiết trong cúng dường, lễ bái.
Những hình tượng nghệ thuật của tạo hình theo Ấn Độ giáo là các tượng
Brahma, Siva, Visnu, nữ thần Bhagavati hay Uma - vợ của thần Siva. Một trong
những chủ đề rất phổ biến ở Ấn Độ nữa đó là hình tượng thể hiện quỷ Ravana
lay động núi Kailàsa, vũ điệu Tanvanda của thần Siva. Vì vậy các hình tượng Ấn
Đó là nguồn đề tài chính cho các nền điêu khắc trên thế giới. Trong lịch sử ở
Đông Nam Á, đã tồn tại nhiều nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn
Độ, nổi bật lên là ba nền điêu khắc tầm cỡ thế giới: Nền điêu khắc Java, nền điêu
khắc Khmer và Chăm pa.
diệt của tôn giáo, cùng với sự phát triển và phong cách của nó, duy trì toàn bộ
cho lịch sử tôn giáo, 2 đặc tính này không thể tách rời nhau. Với tín đồ, xây
chùa, đúc chuông, đúc tượng và những cúng dường cho các đền chùa là một
trong những phương tiện căn bản cho người tu tại gia có thể tạo được một nhân
sinh quan và nhận thức quan hướng Phật. Trong nền nghệ thuật này, phải kể đến
những kiến trúc chùa tháp, điêu khắc, trang trí, đồ họa trong chùa chiền,... tất cả
tạo cảnh quan cần thiết trong cúng dường, lễ bái.
Những hình tượng nghệ thuật của tạo hình theo Ấn Độ giáo là các tượng
Brahma, Siva, Visnu, nữ thần Bhagavati hay Uma - vợ của thần Siva. Một trong
những chủ đề rất phổ biến ở Ấn Độ nữa đó là hình tượng thể hiện quỷ Ravana
lay động núi Kailàsa, vũ điệu Tanvanda của thần Siva. Vì vậy các hình tượng Ấn
Đó là nguồn đề tài chính cho các nền điêu khắc trên thế giới. Trong lịch sử ở
Đông Nam Á, đã tồn tại nhiều nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn
Độ, nổi bật lên là ba nền điêu khắc tầm cỡ thế giới: Nền điêu khắc Java, nền điêu
khắc Khmer và Chăm pa.
II.
Ảnh hưởng của
nghệ thuật tạo hình điêu khắc của Ấn Độ tới các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt
Nam.
11. Khái quát lịch sử
nghệ thuật tạo hình Đông Nam Á
Nền nghệ thuật tạo hình
Đông Nam Á được ra đời từ rất sớm. Trải qua
nhiều giai đoạn phát triển, bên cạnh những yếu tố bản địa thì nghệ thuật tạo hình
ở đây còn ảnh hưởng từ nhiều nền nghệ thuật tạo hình của các trung tâm văn lớn
trên thế giới.
Những tác phẩm xưa nhất mà các nhà khoa học biết đến có niên đại cách
đây tới mười nghìn năm. Ban đầu là những hình khắc chạm đơn sơ trên đá.
Những bức vẽ trên đá được tìm thấy tại rất nhiều nơi ở khắp Đông Nam Á hải
đảo cũng như lục địa. Trên đảo Kalimanta, người ta tìm được trên đá những bức
vẽ hình thuyền, hình mặt trời, mặt trăng, hình cá, thằn lằn và các động vật khác
nữa vào thời kỳ đồ đá giữa. Sang thời kỳ đồ đá mới, bức vẽ con lợn rừng ở hang
Leang patteh (phía Nam đảo Sulavesi) được coi là một trong những bức tranh
nổi tiếng nhất mà nhiều nhà khoa học thường nhắc đến bởi tính chất chân thực và
sinh động của các họa tiết trên đá.
nhiều giai đoạn phát triển, bên cạnh những yếu tố bản địa thì nghệ thuật tạo hình
ở đây còn ảnh hưởng từ nhiều nền nghệ thuật tạo hình của các trung tâm văn lớn
trên thế giới.
Những tác phẩm xưa nhất mà các nhà khoa học biết đến có niên đại cách
đây tới mười nghìn năm. Ban đầu là những hình khắc chạm đơn sơ trên đá.
Những bức vẽ trên đá được tìm thấy tại rất nhiều nơi ở khắp Đông Nam Á hải
đảo cũng như lục địa. Trên đảo Kalimanta, người ta tìm được trên đá những bức
vẽ hình thuyền, hình mặt trời, mặt trăng, hình cá, thằn lằn và các động vật khác
nữa vào thời kỳ đồ đá giữa. Sang thời kỳ đồ đá mới, bức vẽ con lợn rừng ở hang
Leang patteh (phía Nam đảo Sulavesi) được coi là một trong những bức tranh
nổi tiếng nhất mà nhiều nhà khoa học thường nhắc đến bởi tính chất chân thực và
sinh động của các họa tiết trên đá.
Pho tượng người cổ nhất
ở Việt Nam có lẽ là tượng người Văn Điển - đó là
hình một người đàn ông mũi thẳng, mắt nhỏ, thân dài. Ở Indonesia ở hậu kỳ văn
hóa cự thạch, cư dân vùng Pasemak đã tạc một bức tượng người cưỡi trâu khá
lớn. Sự giống nhau, đặc điểm chung của các pho tượng này là chúng đều được
tạc một cách ước lệ. Nói chung “ở các tượng đá lớn này, các tỷ lệ không cân đối,
không thể hiện rõ từng chi tiết nhưng những nét chính, những mảng khối lớn,
chủ yếu, biểu hiện rất sinh động và thực”.
Nói về sự phát triển của nghệ thuật tạo hình Đông Nam Á, người ta không
thể không nói tới sự xuất hiện của đồ gốm. Đồ gốm Đông Nam Á xuất hiện cách
đây tới một vạn năm và Đông Nam Á là một trong những nơi có đồ gốm sớm
nhất thế giới. Điều đáng nói ở đây là trên đồ gốm, người Đông Nam Á đã trang
trí nhiều hoa văn, tiết họa, hình động vật, hình mặt trời,… Trên đồ gốm
Philippines, ngay từ thời hậu kỳ đá mới đã xuất hiện hàng loạt hoa văn thể hiện
hình những con thuyền. Từ gốm mọc dần dần xuất hiện gốm tráng men, và cùng
với sự phát triển của đồ gốm cũng đòng thời là sự phát triển của hội họa Đông
Nam Á.
hình một người đàn ông mũi thẳng, mắt nhỏ, thân dài. Ở Indonesia ở hậu kỳ văn
hóa cự thạch, cư dân vùng Pasemak đã tạc một bức tượng người cưỡi trâu khá
lớn. Sự giống nhau, đặc điểm chung của các pho tượng này là chúng đều được
tạc một cách ước lệ. Nói chung “ở các tượng đá lớn này, các tỷ lệ không cân đối,
không thể hiện rõ từng chi tiết nhưng những nét chính, những mảng khối lớn,
chủ yếu, biểu hiện rất sinh động và thực”.
Nói về sự phát triển của nghệ thuật tạo hình Đông Nam Á, người ta không
thể không nói tới sự xuất hiện của đồ gốm. Đồ gốm Đông Nam Á xuất hiện cách
đây tới một vạn năm và Đông Nam Á là một trong những nơi có đồ gốm sớm
nhất thế giới. Điều đáng nói ở đây là trên đồ gốm, người Đông Nam Á đã trang
trí nhiều hoa văn, tiết họa, hình động vật, hình mặt trời,… Trên đồ gốm
Philippines, ngay từ thời hậu kỳ đá mới đã xuất hiện hàng loạt hoa văn thể hiện
hình những con thuyền. Từ gốm mọc dần dần xuất hiện gốm tráng men, và cùng
với sự phát triển của đồ gốm cũng đòng thời là sự phát triển của hội họa Đông
Nam Á.
Thời kỳ kim khí, nghệ
thuật Đông Nam Á có một sự nhảy vọt đáng kể.
Hàng loạt tác phẩm nghệ thuật tạo hình có giá trị được phát hiện thấy ở
Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Việt Nam,… Nhiều
hoa văn đặc sắc trên đồ gốm Việt Nam, Campuchia như những tượng đá hình
người, hình vật lớn, những hình vẽ trên chum, vại đá và đặc biệt là vô số những
tác phẩm chạm khắc tinh tế trên những dụng cụ bằng đồng (qua, rìu, dao găm,
trống đồng,...). Vào thời kỳ này ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn đã lan ra toàn
khu vực, Trống đồng Đông Sơn có mặt khắp nơi. Trống đồng Đông Sơn trở
thành biểu tượng cao nhất của sự phát triển nghệ thuật tạo hình Đông Nam Á
trong thời kỳ này. Có thể nói một cách không quá đáng rằng Trống đồng Đông Sơn chính là sự phản ánh trung thực và sinh động cuộc sống của cư dân nông
nghiệp Đông Nam Á bằng nghệ thuật tạo hình.
Hàng loạt tác phẩm nghệ thuật tạo hình có giá trị được phát hiện thấy ở
Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Việt Nam,… Nhiều
hoa văn đặc sắc trên đồ gốm Việt Nam, Campuchia như những tượng đá hình
người, hình vật lớn, những hình vẽ trên chum, vại đá và đặc biệt là vô số những
tác phẩm chạm khắc tinh tế trên những dụng cụ bằng đồng (qua, rìu, dao găm,
trống đồng,...). Vào thời kỳ này ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn đã lan ra toàn
khu vực, Trống đồng Đông Sơn có mặt khắp nơi. Trống đồng Đông Sơn trở
thành biểu tượng cao nhất của sự phát triển nghệ thuật tạo hình Đông Nam Á
trong thời kỳ này. Có thể nói một cách không quá đáng rằng Trống đồng Đông Sơn chính là sự phản ánh trung thực và sinh động cuộc sống của cư dân nông
nghiệp Đông Nam Á bằng nghệ thuật tạo hình.
22. Sự ảnh hưởng của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ
Nghệ thuật tạo hình hay
cụ thể là điêu khắc của các nước Đông Nam Á
chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau. Đó đều là trung tâm văn hóa
của khu vực như Ấn Độ, Trung Hoa, hay sau này là các nước phát triển ở
phương Tây. Bước vào thiên niên kỉ thứ nhất, đồng thời với việc phát triển và
bảo vệ nền nghệ thuật tạo hình bản địa, các quốc gia Đông Nam Á cổ đại tiếp thu
trước hết là nghệ thuật tạo hình của quốc gia Ấn Độ. Nghệ thuật này du nhập đến
các quốc gia Đông Nam Á cùng với hai tôn giáo chính là Ấn Độ giáo và Phật
giáo, do đó nghệ thuật nghệ thuật tạo hình của Đông Nam Á chủ yếu thể hiện
trên các công trình có liên quan đến hai tôn giáo lớn này. Để tìm hiểu sự ảnh
hưởng của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ đến kiến trúc và điêu khắc chúng ta sẽ tìm
hiểu sâu về các công trình kiến trúc và điêu khắc của hai Ấn Độ giáo và Phật
giáo ở khu vực Đông Nam Á.
Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới xuất hiện từ trước công nguyên và tồn tại cho đến ngày nay. Trong quá trình phát triển Phật giáo đã trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong số đó có các quốc gia ở Đông Nam Á, mà tiểu biểu nhất là ở các nước Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, Indonesia, Campuchia. Đặc điểm nổi bật nhất để chúng ta có thể nhận biết được Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến các quốc gia này đó là hệ thống chùa chiền đi cùng với nghệ thuật điêu khắc mang đậm dấu ấn của nhà Phật.
chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau. Đó đều là trung tâm văn hóa
của khu vực như Ấn Độ, Trung Hoa, hay sau này là các nước phát triển ở
phương Tây. Bước vào thiên niên kỉ thứ nhất, đồng thời với việc phát triển và
bảo vệ nền nghệ thuật tạo hình bản địa, các quốc gia Đông Nam Á cổ đại tiếp thu
trước hết là nghệ thuật tạo hình của quốc gia Ấn Độ. Nghệ thuật này du nhập đến
các quốc gia Đông Nam Á cùng với hai tôn giáo chính là Ấn Độ giáo và Phật
giáo, do đó nghệ thuật nghệ thuật tạo hình của Đông Nam Á chủ yếu thể hiện
trên các công trình có liên quan đến hai tôn giáo lớn này. Để tìm hiểu sự ảnh
hưởng của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ đến kiến trúc và điêu khắc chúng ta sẽ tìm
hiểu sâu về các công trình kiến trúc và điêu khắc của hai Ấn Độ giáo và Phật
giáo ở khu vực Đông Nam Á.
Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới xuất hiện từ trước công nguyên và tồn tại cho đến ngày nay. Trong quá trình phát triển Phật giáo đã trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong số đó có các quốc gia ở Đông Nam Á, mà tiểu biểu nhất là ở các nước Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, Indonesia, Campuchia. Đặc điểm nổi bật nhất để chúng ta có thể nhận biết được Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến các quốc gia này đó là hệ thống chùa chiền đi cùng với nghệ thuật điêu khắc mang đậm dấu ấn của nhà Phật.
-Ảnh
hưởng ở Thái Lan và Lào
Trong
những vương quốc cổ trên địa phận Thái Lan hiện
nay, đặc biệt là các vương quốc được dân tộc Môn sáng lập, đã có sự giao lưu
văn hóa với Ấn Độ trên cơ sở thương mại. Nghệ thuật nơi đây chịu ảnh hưởng của
thời đại Cấp-đa tại Ấn Độ. Một số hình tượng và kiến trúc đặc sắc được kiến
tạo, ví dụ như bảo tháp (Chedi) của Nakhon
Pathom, cao 127m, được xem là kiến
trúc Phật giáo cao nhất thế giới.
Từ thế
kỉ thứ 9 trở đi thì các truyền thống nghệ thuật Thái chịu ảnh hưởng của các
vương quốc láng giềng như Angkor miền Đông và Sri
Vijaya ở miền Nam. Trong thời gian này, Phật giáo Đại thừa là
giáo lí chính, được thể hiện qua nhiều hình tượng của các vị Bồ Tát khác nhau.
Trong
thời đại vương quốc Sukhothai Về
mặt nghệ thuật thì người ta thấy được một sự chuyển biến từ phong cách giống
nghệ thuật Khmer đến một phong cách biểu đạt rõ ràng, ít rườm rà, thậm chí có
tính chất hình học trừu tượng. Các tượng Phật được biểu hiện với những sắc thái
thanh nhã, trôi chảy, với pháp y trông như trong suốt và đầu hình oval với đỉnh
đầu là một ngọn lửa . Trong triều đại kế đến là Ayutthaya (tk.
14-18) thì mô típ này càng được trau chuốt tinh tế hơn, nhiều hình tượng thường
được mạ vàng và được chạm gắn với đá quý. Thời kì này được xem là thời kì kiến
lập phong cách và gây ảnh hưởng đến ngày nay. Một điểm đặc biệt của nghệ thuật
Phật giáo Thái Lan là miêu tả Phật đang đi trong tranh tượng.
Sự xuất
hiện và phát triển của nghệ thuật Phật giáo tại Lào có mối tương quan
mật thiết với các vương quốc Thái láng giềng. Vật liệu được dùng cho các công
trình kiến trúc và điêu khắc là gỗ, thường được sơn và vẽ. Đến thế kỉ thứ 15
thì các tác phẩm nghệ thuật ở đây rất giống các tác phẩm của Sukhothai. Nhưng
kể từ thế kỉ 16 trở đi thì một phong cách đặc thù được xác lập: tượng Phật ngày
càng thon dần với tay chân rất dài.
-Ảnh hưởng ở Campuchia
Vào
khoảng thế kỉ 1, một trong những vương quốc tồn tại sớm nhất tại Đông Nam Á đã
ra đời đó là Phù Nam. Vào thời hưng thịnh, biên giới phía Tây vương quốc này là
Miến Điện và phía Nam là Mã Lai. Phù Nam là vương quốc sống bằng thương mại và
nằm trên tuyến đường biển giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Ấn Độ đặc biệt đã gây ảnh
hưởng lớn: chữ viết, tôn giáo và nghệ thuật được tiếp nhận và cùng với sự hòa
hợp với truyền thống bản xứ, nhiều phong cách biểu đạt đã phát sinh. Khác với
trường hợp Phật giáo Bắc truyền, tư tưởng và nghệ thuật Phật giáo du nhập Đông
Nam Á trực tiếp từ Ấn Độ bằng đường biển. Mặc dù Ấn Độ giáo là tôn giáo chủ yếu
trong một thời gian dài, nhưng Phật giáo Đại thừa từ ban đầu cũng đã có nhiều
tín đồ.
Trong
thế kỉ thứ 9, vương quốc Khmer xuất hiện trên khu vực Angkor, thừa kế vương
quốc Phù Nam. Nơi đây, thầnThấp-bà và Tì-thấp-nô (là vị thần chính được tôn xưng tại di tích nghệ
thuật Angkor Wat)
là hai vị được tôn thờ nhiều nhất. Từ thế kỉ 12 trở đi, Phật giáo hưng thịnh
dưới sự cai trị của vua Jayavarman VII. Nhiều công trình kiến trúc được thực
hiện như đền Bayon với
nhiều rất nhiều tháp nhỏ hệ thuộc và mỗi tháp đều được chạm khắc khuôn mặt Bồ
Tát Quán Thế Âm
với chiều cao vài thước (ở đây được gọi là Thế tự tại chủ, "đấng tự tại
trên thế gian"), hoặc Đại học Phật giáo Ta
Prohm được phụng hiến cho Bồ
Tát Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Nghệ thuật Khmer được phổ biến qua sự bành trướng của
vương quốc Khmer trên các khu vực Đông Nam Á, trở thành phong cách tiêu chuẩn
cho nghệ thuật Phật giáo Thái Lan, Lào và Champa . Đặc điểm của tranh tượng
Phật giáo tại Angkor là gương mặt thoát li thế gian của các vị Phật, các vị Bồ
Tát cũng như tính rõ ràng của các nét thẳng không được trang trí như có thể
thấy được tại Trung Quốc. Trong lúc giao thời của thế kỉ 13 và 14 thì
Śrīndravarman lên trị vì, và ông cũng là quốc vương Khmer đầu tiên theo Phật
giáo Nam tông là Thượng toạ bộ. Đồng thời, vương quốc Angkor cũng dần dần mất
vai trò chủ yếu trên khu vực này, cũng một phần vì các vương quốc Thái phương
Tây ngày càng lớn mạnh. Sự biến đổi này cũng để lại dấu tích trong nghệ thuật.
Các công trình tự viện lớn đều bị đình chỉ và hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm
được ưa chuộng trước đây giờ bị rơi vào lãng quên. Tượng Phật còn được tạo,
nhưng chỉ được đúc bằng đồng hoặc vàng, không còn được tạc bằng đá. Về mặt phong cách thì các
tượng Phật này giống các tượng tại Lào và Thái vốn có truyền thống theo Thượng
toạ bộ: tượng thon, thanh nhã với những nét rõ ràng mạch lạc. Phong cách nghệ
thuật này được xem là dấu ấn của nghệ thuật tôn giáo Campuchia cho đến ngày
nay.
-
Ảnh hướng ở Miến Điện và Indonesia
Là
láng giềng của Ấn Độ nên các khu vực của Miến Điện hiện nay đã sớm chịu ảnh hưởng của xứ này. Theo truyền
thuyết thì người Môn,
vốn cư trú từ khu vực biển Andaman phía Nam cho đến miền Bắc lấn tới vùng núi
thuộc Thái Lan hiện nay, đã tiếp xúc với Phật giáo trong thế kỉ thứ 3 TCN qua
sứ giả truyền giáo của vua A-dục.
Các ngôi chùa cổ nhất ở đây được kiến lập từ thế kỉ 1-5. Nghệ thuật Phật giáo
của người Môn chịu ảnh hưởng của phong cách Cấp-đa và những thời đại kế thừa.
Cùng với việc di cư khắp vùng Đông Nam Á của người Môn thì phong cách nghệ
thuật Môn cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến truyền thống của những nơi họ đến. Có
hàng nghìn bảo tháp và tự viện đã được kiến tạo tại vương quốc Pagan từ thế kỉ 11 đến 13 và trong đó, trên 2000 di tích vẫn
còn tồn tại đến ngày nay. Các viện bảo tàng tại Yangoon và Mandalay vẫn còn bảo tồn nhiều bức tượng được trang trí và mạ
vàng rất tinh vi được kiến tạo trong thời kì này hoặc thậm chí trễ hơn nữa, sau
khi Pagan bị quân Mông
Cổ xâm chiếm (1287).
Từ
thế kỉ 1, các nền văn minh Indonesia đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Ấn Độ (đặc biệt là hai đảo lớn Java và Bali) và chúng sau này cũng ảnh hưởng đến nghệ thuật tạo hình
của Đông Nam Á đại lục (kiến trúc, điêu khắc).
Trong
khi các vương quốc tại Đông Nam Á lục địa như như Phù Nam và Angkor theo Ấn Độ giáo thì
tại Indonesia, trung tâm Bali, vương quốc Phật giáo Sri Vijaya (tk. 8 đến tk. 13) được hình thành. Vương quốc biển
với khu vực cai trị lan rộng đến bán đảo Mã Lai này đã tiếp thụ truyền
thống Đại thừa và Kim cương thừadưới
triều đại Sailendra.
Những di tích quan trọng nhất của nghệ thuật Phật giáo Indonesia là hệ thống tự
viện Phật giáo lớn nhất thế giới, được kiến lập trên một hòn núi tại Borobudur,
và một bức tượng trình bày Bồ Tát Bát-nhã-ba-la-mật-đa rất đặc sắc.
-Ảnh hưởng ở Việt Nam
Vào đầu công nguyên, khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được
các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân
tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã sinh tồn cùng
dân tộc. Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất
nước như Đinh, Lê, Lý, Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng
thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó. Dù được bản
địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt
Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết
Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét.
Một ví dụ về sự dung hòa này là việc người Việt chuyển nhóm nữ thần
Mây - Mưa - Sấm - Chớp thành hệ thống tứ pháp. Ở đây xét về mặt nghệ thuật
tạo hình, người ta phải kể đến bốn pho tượng được tạc bằng gỗ dâu vào đầu công
nguyên, đó là Pháp Vân (thần Mây) ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần Mưa) ở chùa
Bà Đậu, Pháp Lôi (thần Sấm) thờ ở chùa bà Tướng và Pháp Điện (thần Chớp)
thờ ở chùa Bà Dàn.
Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
Một trong những ấn tượng khó có thể quên được của tượng Pháp Vân là
tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những
nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và
Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá,
tương truyền là em út của Tứ Pháp.
Hình ảnh ngói úp nóc có gắn lá đề trang trí rồng, phượng và tượng đầu
rồng, đầu phượng... được dùng để gắn trên mái cung điện nhà Lý. Những hiện
vật trên có hình dáng như lá bồ đề thường có con rồng bé nhỏ nằm gọn trong
chiếc lá, một thứ hoa văn gần giống như chữ ký đời nhà Lý, hoa sen được thể
hiện trong nhiều hình thái và thường cũng có hình của những con rồng nhỏ trong
những cánh hoa này. Chính những hình rồng đặc biệt của đời nhà Lý cũng là sự
phối hợp hình rồng phương bắc và hình rắn của những dân tộc theo nền văn
minh Ấn Độ. Những biểu tượng Phật trong thời kỳ này không nhiều loại; căn cứ
vào những hiện vật, di tích khai quật được còn những loại như sau: Tượng
Phật A Di Đà và đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; Tượng đức Quan Thế Âm
Bồ Tát (chuẫn đề hay tống tử); Tượng chư vị Kim Cương và Hộ Pháp;
Tượng đầu người hình chim, Tượng các con vật huyền thoại như rồng,
phượng, lân và các con vật có thực như: sư tử, trâu.
Các thời đại tiếp theo của Việt Nam, kiến trúc của Phật giáo thiên về tính
bản địa và có sự giao lưu ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc sang. Do
đó các tác phẩm điêu khắc về tượng Phật, các vị thần, chi tiết hoa văn đã khác và
mang nhiều ý nghĩa dân tộc hơn.
Vào đầu công nguyên, khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được
các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân
tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã sinh tồn cùng
dân tộc. Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất
nước như Đinh, Lê, Lý, Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng
thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó. Dù được bản
địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt
Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết
Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét.
Một ví dụ về sự dung hòa này là việc người Việt chuyển nhóm nữ thần
Mây - Mưa - Sấm - Chớp thành hệ thống tứ pháp. Ở đây xét về mặt nghệ thuật
tạo hình, người ta phải kể đến bốn pho tượng được tạc bằng gỗ dâu vào đầu công
nguyên, đó là Pháp Vân (thần Mây) ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần Mưa) ở chùa
Bà Đậu, Pháp Lôi (thần Sấm) thờ ở chùa bà Tướng và Pháp Điện (thần Chớp)
thờ ở chùa Bà Dàn.
Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
Một trong những ấn tượng khó có thể quên được của tượng Pháp Vân là
tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những
nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và
Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá,
tương truyền là em út của Tứ Pháp.
Hình ảnh ngói úp nóc có gắn lá đề trang trí rồng, phượng và tượng đầu
rồng, đầu phượng... được dùng để gắn trên mái cung điện nhà Lý. Những hiện
vật trên có hình dáng như lá bồ đề thường có con rồng bé nhỏ nằm gọn trong
chiếc lá, một thứ hoa văn gần giống như chữ ký đời nhà Lý, hoa sen được thể
hiện trong nhiều hình thái và thường cũng có hình của những con rồng nhỏ trong
những cánh hoa này. Chính những hình rồng đặc biệt của đời nhà Lý cũng là sự
phối hợp hình rồng phương bắc và hình rắn của những dân tộc theo nền văn
minh Ấn Độ. Những biểu tượng Phật trong thời kỳ này không nhiều loại; căn cứ
vào những hiện vật, di tích khai quật được còn những loại như sau: Tượng
Phật A Di Đà và đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; Tượng đức Quan Thế Âm
Bồ Tát (chuẫn đề hay tống tử); Tượng chư vị Kim Cương và Hộ Pháp;
Tượng đầu người hình chim, Tượng các con vật huyền thoại như rồng,
phượng, lân và các con vật có thực như: sư tử, trâu.
Các thời đại tiếp theo của Việt Nam, kiến trúc của Phật giáo thiên về tính
bản địa và có sự giao lưu ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc sang. Do
đó các tác phẩm điêu khắc về tượng Phật, các vị thần, chi tiết hoa văn đã khác và
mang nhiều ý nghĩa dân tộc hơn.
3. Kết luận
Như vậy nền nghệ thuật
kiến trúc tạo hình của Ấn Độ đã có những ảnh hưởng sâu sắc tới nền nghệ thuật
kiến trúc tạo hình của rất nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Điều này có một
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền nghệ thuật hình khối ở các quốc gia này.
Ngày nay, bên cạnh những ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ thì các quốc gia Đông
Nam Á cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu nền nghệ thuật Tây Phương. Hình thái nghệ thuật này đã tạo nên được những
tác phẩm nghệ thuật Phật giáo mới mẻ và hiện đại