Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Quan hệ nô lệ của Ấn Độ thời cổ đai

  
Nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ thời cổ đại vẫn luôn là một đề tài hấp dẫn với các nhà nghiên cứu và học giả trên thế giới. Ấn Độ thực sự là một mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu gieo mầm nhiều ý tướng và các công trình nghiên cứu. Một đề tài đã được  rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm đó chính là : “ Chế độ đẳng cấp thời cổ đại  ở Ấn Độ ”. Trong bài này, người viết sẽ chú trọng trình bày những vấn đề về chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ thời cổ đại để làm nổi bật nên những đặc điểm về quan hệ giữa các đẳng cấp.

1.     Sự hình thành chế độ đẳng cấp của nhà nước Ấn Độ thời cổ đại.

Ấn Độ là một bán đáo ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Hymalaya nổi tiếng. Ấn Độ được chia thành hai miền nam và bác lấy dãy nuos Vindye làm ranh giới. Miền bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng – đồng bằng hai con sông này là cái nôi phát triển của hai nền văn minh sông Ấn và nền văn minh sông Hằng vĩ đại trong lịch sử văn minh thế giới cổ đại.
Cư dân Ấn Độ về thành phần chủng tộc gồm 2 loại chính là người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền bắc. Ngoài ra thì cón có một số tộc người khác như Hy Lạp, Hung Nô…dần dần đồng hóa với các tộc người của Ấn Độ.
Từ giữa thiên niên kỷ II đến thiên niên kỷ I TCN, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tác phẩm văn học gọi là Vê Đa-vì vậy thời kỳ này được gọi là thời kỳ Vê Đa. Thời kỳ Vê Đa được chia làm hai thời kỳ nhỏ là Rích Vê Đa cà Hậu Vê Đa. Chủ nhân của thời kỳ Rich Vê Đa là người Dravida, sang thời kỳ hậu Vê Đa thì người Aryan lấn chiếm xuống vùng đất phía nam của người Đravida và làm chủ nhân của thời kỳ này. Phần lớn những người Đravida bị giết hại, một số bị bắt làm nô lệ hoặc là bỏ trốn.
Qua những đợt thiên di xâm nhập giữa các chủng tộc đã dần dần hình thành chế độ đẳng cấp và đẳng cấp Varna ra đời. Là một loại chế độ chủng tính hà khắc dựa trên sự phân biệt chủng tộc, đạo Balamon và luật Manu có ảnh hương sâu sắc tới xã  hội Ấn Độ cổ đại.
 Có lẽ ban đầu chế độ đẳng cấp Varna không xấu xa và nghiệt ngã như những giai đoạn sau. Trước khi người Arrian xâm nhập Ấn Độ thì nơi đây một nên văn minh bản địa có đời sống tương đối cao đã được hình thành. Nhưng những người Aryan khi vào đây họ tự cho mình là một nền văn mình cao hơn bộ tộc Đraviđa. Vì thế mà người Aryan đã dựa vào những truyền thuyết kể về một đấng thần linh tối cao đã tạo nên sự cách biệt giữa các đẳng cấp.
Theo truyền thuyết và chuyện kể thì Brahma là vị thần tối cao. Ngài có quyện lức siêu phàm, tượng trưng cho ý tưởng linh thiêng của con người trước thần linh và con người phải khuất phục và chấp nhận. Thần Brahma đã định ra cho mỗi Varna một vị trí quyền hạn và công việc cụ thể tồn tại vĩnh hằng và bất biến. Trong tác phẩm Rig Vê-Đa nhiều lần đề cập đến bốn đẳng cấp của chế độ Varna là Brahman, Kysatorya, Vaisia và đẳng cấp thứ tư sinh ra là để phục vụ 3 đẳng cấp trên là Sudra. Thần Brahma đã định đoạt số phận của các tầng lớp trên là “ra đời 2 lần” con Sudra là “ra đời một lần”.
Vì sai các Varna ra đời với nguồn gốc khác nhau giữa các đẳng cấp, trong truyền thuyết có giải thích:
“khi các thần chia con người thì họ chia lam mấy mảnh?
Mồm, tay, đùi, chân của con người họ gọi là gì?
Mồm ư? Đó là người Brahman
Tay ư? Đó là người Ksotorya
Đùi ư? Đó là người Vaisia
Còn chân nữa ư? Đó là người sudra.”
Trong luật Manu có miêu tả rằng: “vì sự phồn vinh của các thế giới từ mồm, miệng, tay, đùi và bàn chân của mình, ngài tạo nên thư tự tương ứng Brahman, ksatorya, vaisia và sudra.”. Chính vì vậy, có người sinh ra từ những bộ phận cao quí nhất trên cơ thể hoặc có người được sinh ra từ bộ phận thấp kém nhất trên cơ thể thần, nên có sự khác biệt về nguồn gốc và địa vị xã hội của mỗi người. Dựa vào truyền thuyết thần bí, giai cấp thống trị tìm cách giải thích hợp lí cho sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội. Vì đấng tối cao có sức mạnh vô biên và sự định đoạt của thần thánh là bất di bất dịch và chấp nhận sự sắp đặt của thần có nghĩa là giải thoát “ khi sáng tạo ngài qui định cho mỗi người một phẩm chất nào, ác hại hay vô hại, mềm mỏng hay tàn bạo, thật hay giả thì phẩm chất ấy tự nhiên xâm nhập vào cái ấy”.
Đạo Balamon là một tôn giáo dựa trên những tín ngưỡng dân gian hình thành trong chế độ thị tộc. Sau khi đẳng cấp tăng lữ Blamon xuất hiện thì tôn giáo và triết học gắn với nhau tạo thành giáo lý Balamon. Giáo lý Balamon ra sức biện hộ cho chế độ đẳng cấp cho rằng: đó là chế độ phù hợp với ý nguyện của thần Brahma. Như vậy, đạo Balamon trở thành vị “luật sư” tài ba biện hộ một cách xuất sắc cho chế độ đẳng cấp Varna tồn tại.
Theo như chúng ta biết thì chế độ đẳng cấp không chỉ có ở Ấn Độ mà nó tồn tại ở nhiều nước trên thế giới như Hy Lạp, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam…Tuy nhiên không một chế độ đẳng cấp nào lại đặc biệt và điển hình như ở Ấn Độ. Khi bàn về vấn đề đẳng cấp và nô lệ ở Ấn Độ, ngày từ thời cổ đại đã có 2 luồng ý kiến:
+ Luồng ý kiến thứ nhất là của Megaxten, một sứ thần của Xê lơ cút thường trú ở cung đình vương triều Mô-ry-a của Ấn Độ cổ đại đã khẳng định rằng ở Ấn ĐỘ không có nô lệ. Ông nói: “ ở Ấn Độ có một điều đáng chú ý nhất là tất cả mọi người Ấn Độ đều là người tự do, không có người dân Ấn Độ nào là nô lệ”. Sở dĩ ông có ý kiến như vậy vì ông là người Hy Lạp, ông dùng những tiêu chuẩn của người nô lệ ở Hy Lạp để xem xét tình hình nô lệ ở Ấn Độ.
+ Luồng ý kiến thứ 2 là của học giả Cautalia, tác giả của cuốn sách “ Bàn về việc chính trị” cho rằng ở Ấn Độ có đến 15 loại Daxa - có nghĩa là nô lệ, là kẻ địch.
Theo phần lớn các nhà nghiên cứu sau này đều thống nhất là ở Ấn Độ có tồn tại nô lệ, nhưng mà không nhiều lại nô lệ như học giả Cautalia đã đề cập. Tuy nhiên, không phải chỉ tới khi người Aryan xâm lược và thống trị Ấn Độ mới hình thành nên chế độ đẳng cấp mà thực chất ở Ấn Độ đã có chế độ đẳng cấp từ trước đó nhưng chưa rõ ràng và không hà khắc.

2.     Nội dung của chế độ đẳng cấp Varna thời Ấn Độ cổ đại.

Khi nghiên cứu tìm hiểu về chế độ đẳng cấp Varna, chúng ta có thể căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Và tài liệu chính xác nhất là bộ luật Manu. Theo luật Manu thì cư dân Ấn Độ cổ đại được chia làm bốn đẳng cấp theo thứ bậc khác nhau có địa vị xã hội và nhiệm vụ khác nhau đó là Brahman, Ksatarya, Vaisia, và Sudra.
·        Đẳng cấp Brahman ( tên gọi khác là Balamon) bao gồm những người làm nghề tôn giáo
Theo truyền thuyết thì đẳng cấp Brahman là được sinh ra từ miệng của thần Brahma-phần cao quý nhất của cơ thể. Chính vì ”sinh ra từ miệng là phần cao quí và tốt nhât” nên họ được coi là người thay mặt thần Brahma làm các nghi thức tôn giáo. Brahman có nhiệm vụ dạy kinh Vê-Đa và nghiên cứu. Họ được coi là “ ưu tú nhất trong mọi sinh vật, là loại động vật ưu tú nhất trong những loại động vật, là loại động vật có lý tính, ưu tú nhất trong động vật có lý tính là con người, và ưu tú nhất trong loại người là Brahman. Brahman sinh ra sớm nhất và có hiểu biết về kinh Vê-Đa.”
Bằng thuyết này mà đẳng cấp Brahman được thần thánh hóa cho nên vươn cao hơn tất cả sinh vật và đẳng cấp khác. Chính vì vậy mà các Brahman được hưởng mọi sự ưu đãi hơn, tất cả mọi thứ trên thế giới này đều thuộc quyền sở hữu của giáo sĩ Balamon. Do vậy mà tầng lớp tăng lữ Balamon trong xã hội có vai trò và địa vị cao nhất.
Và để chinh phục tình cảm của mọi người thì chế độ đẳng cấp Varna không ngừng đề cao phẩm chất tốt đẹp của Brahman. Khoác cho họ những đức tính, dấu hiệu của người chung thủy, khoan dung,..Vì thế mà Brahaman chiếm được lòng tin của quần chúng nhân dân. 
·        Đẳng cấp Ksatarya bao gồm nhà vua, vương công quý tộc, chiến sĩ những quan lại và viên chức trong bộ máy nhà nước, nắm quyền bính trong tay.
Đẳng cấp Ksatarya là đẳng cấp được hưởng nhiều quyền lợi của xã hội, có của cải. So với đẳng cấp Brahman, đẳng cấp Ksatarya cod khi giàu có hơn rất nhiều, tất nhiên là đẳng cấp này luôn phải chịu sự chi phối và giáo dục của các giáo sĩ Balamon. Một Ksatarya thông minh, sáng suốt là một KsatarYa thường xuyên học hỏi kinh Vê-Đa, biết chăm lo đến việc cúng tế và dâng lễ vật cho Brahman, phục tùng vô diều kiện đẳng cấp Brahman.Nếu trong xã hội đẳng cấp Brahman được coi trọng nhờ học tập và tri thức thì đẳng cấp Ksatarya được trọng phụng với lòng dũng cảm trong chiến đấu. Chỉ bằng chiến thắng nơi trân mạc và tài giỏi cung kiếm, đẳng cấp Ksatarya mới tìm được thấy hạnh phúc, vui sướng và được ca ngợi. Trong quy định của chế độ đẳng cấp Varna, vua là người quang minh chính đại là người khiêm nhường, tôn trọng Brahman…Với thanh gươm của mình Ksatarya là những người đem lại sự bình yên cho đất nước thoát khỏi bóng ma của chiến tranh. Một đẳng cấp đã lấy chính thân thể ưu tú của mình để sẵn sàng hi sinh, bảo đảm cho cuộc sống của những người khác đó chính là những hành động cao cả nhất. Chính vì vậy trong chế độ đẳng cấp trách nhiệm của mọi người là yêu kính vua, tôn trọng vua…
Đẳng cấp Ksatarya mặc dù được cả thiên hạ kinh nể nhưng không vì thế mà lại kiêu ngạo, lười biếng học tập: ”không có Brahman thì Ksatoria không thể thành đạt được. Ksatarya được coi là từ Brahman mà ra, vì vậy mà sự ngạo mạn của Ksatarya đối với Brahman là trái với ý muốn của thần và Ksatoria đó sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc”. Coi trọng và tuân phục với học thuyết uyên thâm, có kiến thức của thần thánh trong khi bản thân mình cũng là đẳng cấp cao quý thì Ksatarya hãy coi là một sự hãnh diện chứ không nên coi đá là một sự hạ thấp bản thân. Từ các cách răn dạy này đối với Ksatarya phải tôn kính Brahman, để khẳng định thêm sau này khi nghiên cứu về đẳng cấp thấp kém hơn thì mức độ tôn kính cũng phải cao hơn nhiều khi đứng trước Brahman. Những quy định này đã ăn sâu vào nếp sống của người dân Ấn Độ và chúng ta biết rằng không phải chỉ thời cổ đại mà đến tận ngày hôm nay ở Ấn Độ vẫn luôn luôn  đề cao giá trị, văn hóa, tinh thần vượt trên những giá trị vật chất đơn thuần. Một phẩm chất nữa mà đẳng cấp Ksataria  cần có là sự công minh và nghiêm khắc khi cai trị dân chúng. Bởi theo cách nghĩ của xã hội có đẳng cấp là “ nếu không thi hành đối với những kẻ đáng trừng phạt, những kẻ khỏe sẽ nướng thịt  kẻ yếu như nướng cá bằng cái xiêm”. Để làm được điều đó khi trị vị đất nước nhà vua phải biết kìm chế tình cảm “ông vua kìm chế lòng yêu ghét, giải quyết các công việc theo Dhama thì lòng dân quy tụ như những con sông đổ vào đại dương”. 
Đẳng cấp Ksatarya có rất nhiều quyền lợi trong xã hội như vậy thì nó cũng ra sức bóc lột quần chúng nhân dân. Bởi vậy mà nó đã hợp với đẳng cấp Brahman để hợp thành lực lượng điên cuồng bảo vệ chế độ đẳng cấp Varna và trở thành kẻ thù của quần chúng bị áp bức.
·        Đẳng cấp tiếp theo sau đẳng cấp Ksatarya là đẳng cấp Vaisia.
Đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội Ấn Độ. Đẳng cấp Vaisia bao gồm những người bình dân Aryan làm những nghề khác nhau như sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, làm nghề thủ công (dệt, làm đồ đất nung, trao đổi buôn bán…). So với hai đăng cấp trên thì đẳng cấp Vaisia là đẳng cấp có địa vị thấp kém nhất , do đó phải lao động để cung cấp sản phẩm cho hai đẳng cấp trên, hay nói một cách khác họ là tầng lớp chính tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội. Vaisia phải lao động vất vả và phải đóng thuế nặng nề cho Ksatarya .
Thân phận của Vaisia không cho phép họ được quyền lười biếng, không cho phép họ quay lưng lại với lao động. Cuộc đời của họ có nghĩa khi gắn với ruộng đồng mùa màng và gia xúc. Nếu trong xã hội đẳng cấp Balamon được gắn liền với sự hiểu biết kiến thức kinh Vê-Đa, đẳng cấp Ksatarya gắn với dũng cảm thì Vaisia được gắn với mùa màng, thóc lúa và gia xúc. Vì là đẳng cấp thấp nên họ không có khả năng trốn tránh lao động.
Trong xã hội Ấn Độ, Vaisia la tầng lớp được tiếp xúc với các công cụ tiên tiến nhất về kĩ thuật sản xuất nông nghiêp, thủ công nghiệp,..nhưng họ lại là đẳng cấp bị hai tầng lớp trên bóc lột nặng nề. Họ chỉ biết cặm cụi làm việc như những con ong thợ chăm chỉ mà không biết phản kháng. Có lẽ tư trưởng của họ bị tôn giáo Balamom cảm hóa quá sâu sắc.
·        Ngoài ba đẳng cấp trên thì một đẳng cấp bị coi là thấp kém nhất trong xã hội, bị khinh bỉ và ngược đãi là đẳng cấp Sudra.
 Đẳng cấp Sudra có nguồn gốc từ những bộ tộc người Dravida cổ xưa bị người Aryan chinh phục. Họ bị người Aryan chinh phục nên địa vị của người Đraviđa trong xã hội vô cùng thấp. Và duy nhất trong xã hội đẳng cấp Sudra không bao giờ được đọc kinh Vê-Đa, thậm chí là không được biết, không được nghe. Đẳng cấp Sudra phải làm công việc phục dịch cho 3 đẳng cấp trên. Họ không có quyền tích lũy của cải, cho dù có khả năng làm viêc đó. Bởi vì theo quan niệm của xã hội nếu đẳng cấp Sudra mà giàu có sẽ có thể gây khó khăn cho các đẳng cấp trên, đẳng cấp Sudra không bao giờ nghĩ dến phục dịch các đẳng cấp trên và không có gì nhục nhã hơn khi những người đẳng cấp cao hơn Sudra mà vì nghèo khó hơn Sudra phải đi đến cầu xin Sudra. Vậy nên họ không có một lối thoát nào ngoài việc phải hầu hạ và  phục vụ  “ đối với Sudra, dhacma cao nhất dẫn đến phúc lạc là phục vụ các Brahman chủ nhà đã nghiên cứu về Vê-Đa và được ca ngợi”.
Sudra được phân biệt với nô lệ (Dasa) nhưng họ cũng gần được coi là thân phận nộ lệ, tuy nhiên khác một điều là họ có tư liệu sản xuất và bị đẩy ra ngoài tổ chức công xã nông thôn. Do vậy mà họ là những người nghèo túng nhất và không được luật pháp che chở. Những người Sudra là những người có cuộc sống đày dọa như những con xúc vật có thân hình người. Họ chỉ có thể kết thúc việc hầu hạ phục dịch của mình cho đến lúc sức cùng lực kiệt, chỉ đến khi chết họ mới được giải thoát “sông và suối có thể cạn nhưng những giọt nước mắt của Sudra không bao giờ cạn”.

3.     Sự khác biệt quyền lợi giữa các đẳng cấp

-Về tôn giáo: Chỉ có 3 đẳng cấp trên mới được cúng thần linh và đọc kinh Vê-đa, trong đó chỉ có tầng lớp Balamon mới được giảng kinh Vê-đa và phụ trách việc cúng lễ. Nếu một người Sudra cả gan nghe nén tụng kinh thì sẽ bị thổi thiếc nung chảy vào tau. Vậy nên Ba tầng lớp trên được coi là sinh ra 2 lần, còn tầng lớp Sudra chỉ được coi là sinh ra một lần.
-Về hôn nhân: Chế độ đẳng cấp Varna quy định chỉ nên kết hôn với người cùng đẳng cấp. Tuy nhiên đàn ông ở các đẳng cấp trên có thể lấy vợ ở các đẳng cấp dưới, nhưng phụ nữ ở các đẳng cấp trên không được kết hôn với đàn ông thuộc đẳng cấp dưới.
- Quyền lợi trước pháp luật: Nếu cùng bị phạm tội như nhau thì các đẳng cấp trên được xét xử nhẹ hơn các đẳng cấp dưới. Nếu là nạn nhân thì các đẳng cấp càng cao thì sẽ được bồi thường càng nhiều. Đẳng cấp Brahman được coi là ưu tú nhất, thân thể họ được coi là bất khả xâm phạm. Ngược lại đẳng cấp Sudra là đẳng cấp thấp kém nhất.  Chế độ đẳng cấp Varna đưa ra quy định rạch rọi về hình phạt đối với mỗi đẳng cấp khi vi phạm luật pháp. Ví như, nếu giết hại một người Sudra chỉ bị phạt 1/16 tội giết một Brahman, giết Ksatarya thì bị phat 1/8 khi giết một Brahman và 1/4 khi giết Vaisia. Sudra không được dự việc tế lễ mà thậm chí họ cũng không được bê thi thể của tầng lớp Balamon đặt lên giàn lửa khi làm tế hỏa tảng.
Đối với những người nô lệ mà chủ cho là phạm tội thì chủ có quyền trừng phạt mà hình thức thông thường nhất là đánh đập, xiềng xích, đóng dấu nung đỏ. Nếu chủ giết chết nô lệ cũng không phải là một tội lỗi.
Phần đông nô lệ ở Ấn Độ là người đồng tộc, hơn nữa họ lại xuất thân từ những đẳng cấp khác nhau nên khi đối xử với nô lệ, chủ không thể suy nghĩ đến những vấn đề ấy. Do đó nô lệ có gia đình riêng, cũng chính vì vậy mà quan hệ nô lệ ở Ấn Độ cổ đại không phát triển mạnh như các quốc gia Ai Cập, Hy Lạp. Nô lệ giữ một vài trò rất phụ trong đời sống kinh tế xã hội.
Dưới bốn đẳng cấp này còn có những người tiện dân khác được gọi là Paria, họ bị coi là hạng người đê tiện nhất, ô uế nhất, đáng ghê tởm nhất trong xã hội. Vậy nên họ phải sống cách biệt với xã hội.

ð Kết luận

Như vậy thông qua sự phân công lao động, công việc đối với từng đẳng cấp trong xã hội cổ đại, chúng ta đã thấy được một cách căn bản nội dung của chế độ đẳng cấp Varna. Nội dung cuả chế dộ đẳng cấp Varna, thực chất là sự phân công lao động diễn ra trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Nó đảm bảo quyền lợi của một bộ phận đẳng cấp thống trị trong xã hội Ấn trên cơ sở bóc lột một cách sâu sắc những người thuộc đẳng cấp dưới. Chế độ dẳng cấp Varna không ngừng tăng cường quyền lực cho đẳng cấp Balamon và Ksatarya.
Thông qua những điều được phân tích trên, thì ta có thể vén ra được bức màn của xã hội Ấn Độ cổ đại, nhất là bản chất của chế độ đẳng cấp. Chế độ đẳng cấp Varna duy trì theo “ cha truyền con nối”. Cho dù thời gian trôi đi, hạnh phúc luôn mỉm cười với nhũng người thuộc tầng lớp trên còn nỗi đau bất hạnh và dòng nước mắt vẫn sẽ không bao giờ buông tha cho đẳng cấp thấp kém bị coi là hèn hạ. Từ thờ kì này qua thời kì khac chế độ đẳng cấp tồn tại một cách bền chặt trong xã hội Ấn Độ.
    Chế độ đẳng cấp là hậu quả của chiến tranh đem lại, chính chiến tranh đưa đến sự ra đời của chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và hà khắc nhất trong lịch sử nhât loại. Người Aryan đã biến những kẻ mà mình chinh phục được thành nôi lệ và trong bản thân người Aryan đã có sự phân tách ra thành ba đẳng cấp khác nhau. Trong những người Aryan thì đẳng cấp Vaisia là đẳng cấp bị coi là thấp kém nhất và phải có nghĩa vụ lao động để cung cấp cho 2 đẳng cấp trên “ Brahman sẽ tự biểu hiện sự hạnh phúc, Ksatoria là sự che chở, Vaisia là sự phồn thịnh, Sudra là từ đáng khinh”. 
Một điều nữa cho ta thấy rằng chế độ đẳng cấp Varna là một chế độ bóc lột hà khắc, tàn bạo, với những luật pháp  không thương tiếc quyền lợi và tính mạng của những người thuộc đẳng cấp dưới. Trong xã hội đẳng cấp Vaisia và Sudra “nên khuyến khích Vaisia buôn bán, cho vay lãi, canh tác cũng như chăn nuôi gia súc, khuyến khích Sudra hầu hạ những người sinh ra hai lần”. Những quy định hết sức hà khắc này chính là những yếu tố giúp cho chế độ đẳng cấp tồn tại một cách dai dẳng và ăn vào máu thịt của người dân Ấn Độ. 
Chế độ đẳng cấp Varna đã tạo nên sự che chở cho đẳng cấp Brahman đến nỗi nếu kẻ nào làm cho Brahman phải đổ máu thì bao nhiêu hạt bụi nhuốm máu thì kẻ đó phải bị đày ải xuống địa ngục ngần ấy năm. Qua đây ta thấy sự bất công rõ ràng trong chế độ đẳng cấp Varna và sự bất công của các tầng lớp trên với tầng lớp dưới cùng.
Chính vị vậy mà chế độ đẳng cấp ngoài bảo vệ địa vị thống trị của người Aryan còn là sự bênh vực cho các tầng lớp trên áp bức bọc lột các tầng lớp dưới. Và một điều hết sức bất công và vô lí là luật pháp của chế độ đẳng cấp, thừa nhận cho sự bóc lột của đẳng cấp trên đối với đẳng cấp dưới, coi sự phục vụ của người thuộc đẳng cấp dưới là nghĩa vụ tốt nhất của Sudra, vì thế mà họ phải phục dịch tầng lớp trên vô điều kiện.
Chế độ đẳng cấp Varna đã bước vào lịch sử Ấn Độ cổ đại với một sức mạnh vô cùng lớn mạnh từ thế kỉ này sang thế kỉ khác và nó uyển chuyển tồn tại qua các thời kì lịch sử. Đến thời trung đại chế độ đẳng cấp Varna đã không còn đử điều kiện để thích nghi được như trước và buộc nó phải biển đổi và điều đó dấn đến sự chuyển biến sâu sắc từ chế độ đẳng cấp Varna sang chế độ Casta.













Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

Đặc điểm tính điều hòa của Phật Giáo Trung Quốc với xã hội

Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc là Phật Giáo Ðại Thừa, tiêu biểu cho chân lý của đức Phật và phát triển theo phong trào vận động phục cổ. Phật giáo ở Trung Quốc phát triển ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng. Có bốn đặc điểm cơ bản của Phật giáo Trung Quốc, trong đó có một đặc điểm tiêu biểu là Tính điều hòa với đời sống xã hội.
Đặc điểm tính điều hòa của phật giáo Trung Quốc trong đời sống xã hội chủ yếu được thể hiện qua những khía cạnh sau:

-         1. Phật giáo Trung Quốc kết hợp với Nho giáo, đạo giáo để tạo thành thế chân vạc vững chắc về tư tưởng.

Phật giáo Trung Quốc đang kế thừa và phát triển Phật giáo với tinh thần Phật giáo nhân sinh, tức đang hướng đến con đường Phật giáo nhân gian. Phật giáo Trung Quốc đã kế thừa tinh thần cơ bản của Ðức Phật, người sáng lập ra Phật giáo, đồng thời với không khí văn hóa truyền thống, đã hình thành một tinh thần Phật giáo tươi sáng khác với tinh thần Phật giáo Ấn Ðộ. Điều tiêu biểu nổi bật hơn nữa là tinh thần giáo lý của Phật giáo tại Ấn Ðộ đã hàm chứa tinh thần nhân bản, lấy con người và cuộc sống làm trung tâm. Từ đó khẳng định được sự tồn tại, làm cho Phật giáo hình thành, thậm chí ngày càng phát huy và phát triển. Văn hóa Phật giáo Trung Quốc sở dĩ cùng với Ðạo giáo, Nho giáo truyền thống song song trở thành những bộ phận quan trọng nhất, cơ bản nhất của nền văn hóa tư tưởng truyền thống bởi vì trong một mức độ nhất định nào đó, Phật giáo đã bổ khuyết một số mặt chưa đủ hoặc còn thiếu sót đáng tiếc của nền văn hóa tư tưởng truyền thống vốn có của Trung Quốc. Mặt khác, sự mâu thuẫn và dung hợp giữa Phật giáo cùng với Nho giáo, Ðạo giáo ngày càng hướng đến cuộc sống con người, xã hội hiện thực, đúc kết thành phẩm cách mang tính hiện thực không thể tách rời. Nội dung giáo lý hàm ẩn đối với sự truy tìm hạnh phúc trong cuộc sống chính là con người trên mảnh đất Trung Quốc với cuộc sống xã hội hiện thực phải xem trọng sức lực và sinh mạng, có được tinh thần phát huy lớn mạnh hết sức mình.
-         Phật giáo Trung Quốc điều hòa văn hóa truyền thống của con người.

Phật giáo xem vô minh và tham dục là cội nguồn của sự thống khổ trong cuộc sống, khuyến tấn chúng ta đối với vạn vật đừng khởi tâm tham đắm, giữ gìn bổn tính thanh tịnh tự nhiên của con người, đừng bị lòng tham muốn vật chất ô nhiễm và lừa gạt, luôn giữ tâm trạng bình tĩnh và ôn hòa. Lý luận này có ý nghĩa rất sâu sắc đối với sự khắc phục hiện tượng lòng tham muốn vật chất trong xã hội hiện đại, vì với con người, mấy ai đã tự  làm chủ và giới hạn được lòng tham của mình? Tuy  nhiên lòng ham muốn hợp lý, chánh đáng cần phải được khẳng định và bảo vệ, nhưng cũng không được  thái quá, vì thái quá sẽ hại mình hại người. Thường trụ trong tinh thần “không chấp trước” của Phật giáo để điều hòa và khống chế tâm lý nội tại hoặc cách  hành xử bên ngoài, điều này cũng ích lợi đối với xã hội và nhân sinh.

Khi nói đến quan điểm giải thoát cho tất cả chúng sanh và nhấn mạnh tinh thần thoát khỏi biển khổ của nhân sinh. Phật giáo Trung Quốc đang đề cao vấn đề nhân sinh và con người, trong đó  tính đại biểu nổi bật nhất là Tôn phái Thiền tông.  Phật giáo Thiền Trung Quốc đã khẳng định mạng sống chân thực của mỗi cá nhân, thể hiện trên cơ sở ý nghĩa và mạng sống nội tại hòa nhập vào sự giải thoát đối với cuộc sống hiện thực, thay đổi cách tu hành, cầu thành Phật giữa việc ăn cơm, mặc áo bình thường, nhấn mạnh tính tùy duyên, tùy vận mệnh, tức tâm tức Phật, cho rằng “tất cả tâm đều là Phật”, “tất cả Phật đều là con người”, người và Phật không khác nhau”.

Thuyết nghiệp báo luân của phật giáo cho rằng quyền chủ động vận mạng và cảnh ngộ của mỗi  người chúng ta là do mình tự quyết , không giao phó trong tay của người nào khác. Từ đó đã nảy sinh ra những xu hướng đạo đức thực tiễn trong cuộc sống như “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”. Lý tưởng giải thoát xuất thế của Phật giáo tuy căn cứ vào việc nhìn nhận cuộc sống  là vô thường, khổ... để biểu đạt sự hướng vọng về thế giới cực lạc vượt qua biển khổ vĩnh viễn, thể hiện sự truy đuổi hạnh phúc vĩnh hằng trong cuộc sống. Việc này thông qua sự nỗ lực của tự thân, thực hiện lý luận nhân sinh tốt đẹp, trong đó hàm ý khuyên người hướng thiện, tinh thần tích cực tiến thủ và đương nhiên đối với cuộc sống  và hiện thực xã hội đó là việc làm rất có ý nghĩa.

-        2. Phật giáo Trung Quốc đã tạo ra nhiều kinh phật ngụy tạo, là kinh do người Trung quốc viết ra.

     Phật giáo Ðại Thừa có những chủng loại khác nhau, trong đó vô luận là chủng loại nào đều tự coi như từ đức Phật mà ra cả, và đều có thể đại biểu cho chân lý của Phật. Cũng vì thế nên mỗi phái đều đưa ra những quy định riêng để thuyết minh tín ngưỡng của mình. Chẳng hạn như Thiên Thai Tôn chủ trương thuyết "Ngũ Thời Bát giáo" và Hoa Nghiêm Tôn thì chủ trương thuyết "Ngũ Giáo Thập Tôn" v.v... làm đại biểu của mình. Đã có nhiều sự chống đối mà phát sinh nhiều cách phán thích khác nhau, và kết quả đã đưa đến sự thành lập nhiều tôn phái Ðại Thừa. Nhất là trong các kinh điển Ðại Thừa , mỗi phái tùy ý lựa chọn một bộ để làm tôn chỉ của mình, đó là đặc sắc của Phật Giáo Trung Quốc, mà tại Ấn Ðộ chưa từng có hiện tượng ấy.

Lại nữa về việc chú thích kinh luận một cách hoàn toàn chủ động, làm nổi bật nhiều đạo lý thâm sâu, đó cũng là một đặc sắc của Phật Giáo Trung Quốc. Tại Ấn Ðộ cũng có chú thích kinh điển tuy không nhiều thì ít, cũng khơi thêm được ý nghĩa thâm sâu của nguyên văn, nhưng không thể vượt qua giới hạn của nguyên văn, cho nên thiếu hẳn tính chất tự do. Ở Trung Quốc, trái lại lấy việc phiên dịch những nguyên điển làm chủ, cho nên đối với vấn đề giải thích, phương pháp "Ý nghĩa giải văn" đã được áp dụng, kết quả là ngoài ý nghĩa của nguyên văn ra, trong các bản chú thích cũng có rất nhiều ý nghĩa đặc biệt nữa. Chẳng hạn như Thiên Thai chú thích kinh Pháp Hoa, và Hiền Thủ chú giải kinh văn khác, những học giả của các tôn phái, theo nhiều lập trường, đặc biệt giải thích cũng có rất nhiều. Tại Ấn Ðộ và Nhật Bản, chúng ta không thấy hiện tượng đó, bởi vậy mà việc ấy đã thành đặc sắc của Phật Giáo Trung Quốc.

Như vậy đặc điểm này mà phật giáo Trung Quốc có được đã giúp cho Phật giáo ngày ăn sâu vào đời sống xã hội Trung Quốc. Vượt qua các chặng đường lịch sử lâu dài và thăng trầm biến đổi của đời sống chính trị xã hội, phật giáo vẫn giữ được vai trò lòng cốt đối với đời sống và tinh thần người dân Trung Quốc.