Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Cùng chung tay góp sức ủng hộ bà con dân tộc và học sinh nghèo hiếu học tại Lũng Luông-Thượng Nung-Võ Nhai-Thái Nguyên

Kính thưa cả nhà 
Thượng Nung là xã đặc biệt khó khăn thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cách Hà Nội khoảng 120km. Là một xã với gần 100% là đồng bào dân tộc thiểu số gồm Tày, Nùng, Mông. Thu nhập chủ yếu của bà con là từ việc trồng lúa ngô (mỗi năm chỉ được 1 vụ) và chăn nuôi. Toàn xã có 7 thôn bản với 484 hộ dân. Theo số liệu mà địa phương vừa rà soát hộ nghèo cuối năm do anh Tuyên Chủ tịch xã cung cấp thì hai Bản người Mông Lũng Luông và Lũng Cà có số hộ nghèo nhiều nhất toàn xã: Lũng Luông là 62 hộ trên tổng số 117 hộ, Lũng Cà là 18 hộ trên tổng số 33 hộ. Cả xã có 1 trường THCS, 2 trường tiểu học và 1 trường mầm non. Hai điểm trường tiểu học được đặt tại Lũng Luông và Lũng Cà, các em học sinh đều có hoàn cảnh khó khăn và cần sự chung tay giúp đỡ của cộng đồng. Trong khi một mùa đông lại đến chúng ta cần phải lên đường mang 1 chút hơi ấm, 1 chút tình thương gửi đến những người dân và trẻ em nghèo miền núi nơi đây. Nhóm sẽ bắt đầu chính thức khởi động kêu gọi ủng hộ chương trình "Noel trên xã Thượng Nung - Huyện Võ Nhai - Thái Nguyên", dự kiến chương trình là 21/12/2014. Chương trình này sẽ trao tận tay tổng cộng 102 xuất quà dành cho hộ nghèo của 4 bản Lũng Luông, Lũng Cóm, Lũng Hoài, Lũng Cả và 230 xuất quà dành cho mầm non và tiểu học của Lũng Luông và Lũng Cóm. Cụ thể các xuất quà như sau:
* Quà dành cho hộ nghèo trị giá 400.000 đồng gồm:
- 10 kg gạo
- 1 chăn ấm
- 1 thùng mì tôm
- 1 màn tuyn
* Quà dành cho các em mầm non và tiểu học trị giá 200.000 đồng gồm:
- 1 bộ quần áo nỉ ấm
- 1 đôi ủng
- 1 chiếc mũ len
- 1 đôi tất
- 1 suất bánh kẹo
* Tổng số tiền cần cho chuyến đi là 86.800.000 đồng
Tiếp nhận ủng hộ qua tài khoản hoặc trực tiếp:
- Viettin bank: 711A79859601. Chủ TK Phạm Đình Mạnh, chi nhánh Ba Đình.
- BIDV: 22210000268735. Chủ TK Phạm Đình Mạnh, chi nhánh Thanh Xuân.
- Vietcom bank: 0541001611935. Chủ TK Lê Thị Bích Thảo, chi nhánh Chương Dương.
Mọi thông tin liên lạc, vui lòng liên hệ Mạnh Mường (0974.974.104) và Thảo Lê (0903.299.464)
Mong tất cả chúng ta cùng cố gắng để chuyến đi được thành công rực rỡ. Mọi sự đóng góp và ủng hộ xin các nhà hảo tâm và các bạn coment dưới đây để admin của nhóm tiện theo dõi.
Thay mặt nhóm, xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!
P/S: Hãy bắt đầu hành động thôi cả nhà nhỉ  Kêu gọi ủng hộ học sinh nghèo tại Lũng Luông.








Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

CỘI NGUỒN MÔ HÌNH VĂN HÓA-XÃ HỘI LÚA NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT.


Trong quá trình đi giải mã sự hình thành tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã phân tích, đối chiếu mối quan hệ và sự biến đổi bên trong của ngôn ngữ. Từ góc độ dân tộc-ngôn ngữ, các nhà khoa học đã giả định rằng cư dân Việt _Mường đã áp dụng mô hình văn hóa-xã hội lúa nước vùng chân núi của người Tày xuống vùng châu thổ sông Hồng.
Khi các nhà khoa học xem xét hai lĩnh vực chủ yếu trong mồ hình kinh tế-xã hội lúa nước: tổ chức sản xuất lúa nước thuộc hạ tầng cơ sở và cơ cấu xã họi, tổ chức chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc đã nhận ra những yếu tố giống nhau trong cơ cấu văn hóa giữa Tày-Thái và Việt –Mường.

11.  Tổ chức sản xuất nông nghiệp lúa nước.

Tên gọi gạo là khẩu của giữa Tày và Việt đều chung nhau. Ngày nay từ “khẩu” của tiếng Tày, Thái còn bao hàm nội dung rộng tương ứng với các từ lúa, gạo, cơm của tiếng Việt. Giữa hai nhánh ngôn ngữ vẫn giữ được những yếu tố chung chủ đạo, ví dụ ta có một số giống lúa như gạo cẩm/khẩu căm, gạo xoan/ khẩu xoan, gạo dâu/ khẩu dâu….
Cũng như cư dân Tày-Thái, người Việt phân lúa thành hai loại đặc tính là  gạo nếp và gạo tẻ. Từ nếp tương ứng với từ “niêu” tức là dẻo trong tiếng Thái, tiếng Tày gọi là “dếp. Từ tẻ tương ứng với từ “te” của tiếng Tày và “xé” của tiếng Thái.
Trong cơ cấu giống lúa nếp và tẻ đã có một quá trình chuyển đổi. Người Tày-Thái trồng lúa nếp là chính và việc ăn nếp hoàn toàn phù hợp với điều kiện sống và lao động của họ ở vùng chân núi hẹp trong mô hình kinh tế nông nghiệp: ruộng-rẫy, cơm nếp ăn ít, trèo núi không nặng bụng mà lại lo lâu, xôi dẻo để được lâu và mang đi nương, đi ruộng dễ dàng, thức ăn đơn giản không cần canh, có thể ăn khô..
Người Việt xưa nay cũng ăn cơm nếp. Nhưng sau này do nhu cầu lương thực ngày càng tăng vì sự phát triển dân số, người Việt đã làm nhiều vụ trong một năm. Họ đã cải tạo được giống gạo tẻ có năng suất cao, cho nên họ buộc phải chuyển sang trồng lúa tẻ là chính. Vì vậy mà trong bữa ăn hàng ngày của người Việt thường là gạo tẻ, cơm nếp trở thành món ăn trong các dịp lễ tết, ngày hội như để nhắc lại cội nguồn xa xưa khi cơm nếp là thức ăn chính.
Liên quan tới giống lúa còn có vấn đề thời vụ. Ngày nay người Việt  phải làm hai vụ. Vụ mùa vốn là vụ chính, thuận theo thời tiết và vụ chiêm là vụ cưỡng. Cư dân Tày-Thái chỉ làm một vụ trong năm. Khi đưa cây lúa xuống đồng, cư dân Việt-Mường ngoài vụ chính, vụ mùa họ còn sáng tạo thêm vụ chiêm. Tùy theo địa hình từng vùng khách nhau mà vụ chiêm có vị trí khác nhau. Ở những vùng trúng thì vụ chiêm trở thành vụ chính.
Trong nghề nông có hai loại đất trồng: lúa nước ruộng, người Tày-Thái gọi là “nà”, lúa khô ở rẫy. Từ “rẫy” bắt nguồn từ từ Môn-Khmer “sre” có nghĩa là nương rẫy. ở tiếng Mường nương rẫy được gọi là “roong”, ruộng được gọi là “ nà” theo Thái, hoặc “tlua”. Trong cơ cấu nông nghiệp lúa nước vùng thung lũng hẹp của người Tày-Thái và người Mường bao giờ cũng có sự kết hợp giữa ruộng và rẫy. Nương rẫy như là một thành phần bổ sung phản ánh truyền thống trồng rau củ của thời tiền cốc loại. Mặc dù nguồn thu hoạch chính về lương thực nằm ở khu vực trồng lúa nước, nhưng nương rẫy vẫn rất quan trọng đối với đời sống của người Tày. Nó hỗ trợ cho kinh tế gia đình nguồn lương thực bổ sung, nhất là nguyên liệu cho nghề dệt vải. Sau này khi xuống đồng bằng, người Việt đã chuyển kinh tế nương rẫy thành kinh tế vườn. Cơ cấu ruộng-rẫy đã trở thành cơ cấu ruộng-vườn. Vì vậy mà vườn đối với người Việt rất quan trọng. Chỉ có vườn mới đảm bảo cho người nông dân những nhu cầu của đời sống ngoài cây lúa. Người ta gọi đó là văn hóa vườn. Vườn vốn bắt nguồn từ tiếng Hán “Viên” mà người Việt đã mượn để phân biệt với “nương”. Có thể nương có gốc với “xuốn” ( vườn) của người Tày-Thái. Trong tiếng Lào còn có từ “hược xuốn” ( vườn tược) và yếu tố “hược” có thể quan hệ với “tược” ở trong “vườn tược”.
Người Tày, người Mường và người Việt đều coi trọng lúa nước bởi nó mang lại năng suất cao và tạo ra một cuộc sống ổn định. Vì thế trong bậc thang giá trị của xã hội, ruộng nước được đề cao, người làm ruộng được xem là  văn minh, còn lúa nương thì ngược lại. Tục ngữ Thái có câu “ Hay lựa tá bẩu tò na hẩu nưng” (  nương hút mắt không bằng một thửa ruộng). Trong xã hội Mường, người làm nương bị khinh rẻ, không dược tham dự bàn việc mường, việc bản, mặc dù trong nghi lễ khi con người trở về cội nguồn, người Mường lại đề cao nhân vật ông cậu ở vùng “ tất thín” ( dân đất nương). ở người Việt sống ở đồng bằng là chủ yếu nên vị trí của lúa nương không có nhiều nên không có sự đối lập đó, nhưng trong tiềm thức người ta vẫn coi trọng lúa nước và hết sức ca ngợi những cánh đồng “ thẳng cánh cò bay” và coi thường vùng đồi núi “ nơi khỉ ho cò gáy”.
Trong nghề làm lúa nước hệ thống thuyt lợi lại là yếu tố cực kỳ quan trọng. Khi con người biết dùng thủy lợi thì lúc đó nông nghiệp lúa nước mới thực sự bắt đầu hình thành. Vì vậy người Thái có nói  “ mi nặm chẳng pên na, mi na chẳng qên khẩu”  ( có nước mới thành công, có ruộng mới có lúa”. Cư dân Việt- Mường đã áp dụng hệ thống thủy lợi của cư dân Tày-Thái. Hệ thống đó được phản ánh qua các từ ngữ. Có nhiều cách đưa nước vào ruộng: dẫn nước từ các suối có độ cao hơn mạt ruộng bằng hệ thống mương phái; ngăn suối ở dưới thấp hơn mặt ruộng rồi dùng guồng/ cọn đưa lên; trữ nước trong ao chuôm, và dùng gầu tát nước vào ruộng… Các từ mương, phai, cọn..đều là những từ có gốc Tày-Thái, sang tiếng Việt ta có mương, phái, bai guồng. Ngày nay ta còn có thể thấy được hệ thống đó trong xã hội của người Mường, người Thái.
Có người cho rằng “áo” trong tiếng việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nhưng theo Tân Hoa Từ Điển thì “áo” có nghĩa là nơi đào lõm xuống, trái với đột nhô lên. Ví dụ “ ao đột bất bình” ( lõm lồi không phẳng). Trong khi đó theo JFM Genibrel thì “ao” là một từ Nôm, tức là một từ thuần việt được ghi bằng chữ Nôm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ “ao” là một hiện tượng của văn hóa Tày-Việt một hình thức giữ nước.
Theo giáo sư Từ Chi thì cơ chế thủy lợi của người Mường hiện này như sau: mỗi Mường là một thung lũng hẹp có nhiều “quel”. Từ “quel” vốn bắt nguồn từ kavel-tiếng Chứt sau biến thành: kavel> quel>quen> quê dùng để chỉ đơn vị cư trú của một làng ở người Việt, một bản ở người Thái. Trong tiếng iệt hiện nay còn giữ lại hai từ biến dạng với sự phân bố ngữ nghĩa khác nhau: quen – người quen, người cùng quê và quê – nới sinh ra mình, nhà quê chỉ người ở nông thôn… Mỗi quel có mọt địa vực cư trú riêng, có diện tích ruộng riêng với hệ thống thủy lợi tương ứng. Ruộng trong “quel” được tưới bằng hai nguồn nước: nước ở các con suối nhỏ từ trên núi chảy qua ruộng của từng quel và nước ở suối lớn chảy qua giữa Mường. Đa số ruộng bậc thang ăn nước ở các suối nhỏ chỉ có trong những thời kỳ nhất định, vì vậy người ta phải dùng tới nước suối lớn có quanh năm bằng hệ thống mương-phai-guồng-cọn. Hệ thống của lang đạo Mường đều phải lo điều hành công tác thủy lợi để tránh sự va chạm giữa các quel. Hàng năm cuộc họp lớn nhất của nhà lang là để giải quyết công tác thủy lợi.
ở người Tháu, mương phai là việc của toàn  Mường, do “quan nà” ( quan lo về ruộng) và đội trực phiên sửa chữa mương phái. Hàng năm Mường có lễ “tế phai” cúng thần phai để giúp dân giữ nước làm ruộng.
Mô hình thủy lợi cổ của cư dân Tày-Thái sử dụng ở vùng chân núi được cư dân Việt-Mường đưa xuống  đồng bằng Bắc Bộ và sau đó lan truyền sang cả vùng Trung Bộ. Nhưng do cấu tạo nền tầng đồng bằng Bắc Bộ không bằng phẳng như đồng bằng Nam Bộ, hơn nữ con người đã xuống sớm khi phù sa sông Hồng chưa  phủ kín đồng bằng nên tại đây con người đã đắp đê ngăn từng ô trũng theo những địa giới tự nhiên, và cứ thế lấn dần ra biển từ tây sang đông, từ bắc xuống nam, từ thượng châu thổ tới hạ châu thổ. Do đó đê ra đời rất sớm và cho đến nay nguồn gốc của nó còn chưa được xác định. Đê có thể bắt nguồn từ kỹ thuật đắp phai, đắp thành của người Tày-Thái đem xuống như đê La Thành của Hà Nội ngày nay. Như vậy là đê ra đời do nhu cầu ngăn nước mặn vào đồng và bảo vệ vùng cư trú khỏi nước lũ, chứ không phải nhằm mục đích đưa nước vào ruộng. Nhưng nhờ đê mà người ta đã chia vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thành những ô trũng hình lòng chảo và người Việt-Mường đã áp dụng phương pháp thủy lợi của cư dân Tày-Thái vào những ô trũng đó để khai thác nguồn nước tự nhiên và nguồn nước địa phương. Vì đê có chức năng bảo vệ vùng cư trú nên các tù trưởng đã kết hợp đê với thành ở những địa điểm họ dùng làm trụ sở.
Về phương pháp đắp thành giữ người Việt và người Thái là giống nhau. Ngày nay ta có thể quan sát thấy sự giống nhau giữa thành Cổ Loa của người Việt và thành Xám Mứn của người Thái. Ngày nay nhiều nhà khoa học đã tìm thấy nhiều tên gọi ở Cổ Loa là tên Tày –Thái. Điều đáng chú ý ở đây là  với hệ thống đê điều trên vùng đồng bằng bắc bộ, nước sông Hồng không được sử dụng, mặc dù người ta biết rõ giá trị của phù sa.
Trong kỹ thuật canh tác trồng lúa còn có một khâu quan trọng: đó là việc cấy lúa. Kỹ thuật này đối lập vớ phương pháp gieo thẳng vốn là phương pháp trồng lúa ở vùng cao, lúa nương. Người Thái gọi “mạ” là cả trước khi cấy thì có dâm mạ “ xắm cả” và sau đó mới cấy “ đăm na”.Những từ như vãi/ ván cả, nhổ mạ/looc cả, dâm mạ/ xắm cả, cầy ruộng/ thay na, bừa ruộng/ban na,.giữa tiếng Việt, tiếng Tày và tiếng Thái đều giống nhau. Người Thái có 3 công cụ cỏ truyền phù hợp với người Việt là: cày/thay, bừa/ ban, thuổng/ lủa. Họ cũng gặt bằng hép như cách gọi của người Việt miền trung. Trong khi làm ruộng mỗi gia đình đều tự làm lấy hết công việc của mình. Nhưng để kịp thời vụ thì họ cần phải giúp đỡ nhau. Người Thái và người Việt đều có chung hình thức mướn công.
Trong việc làm sạch lúa người Việt và Tày-Thái đều có cả một hệ thống dụng cụ giống nhau và cùng tên: cối/ khốc, xay/xí, sàng/ khowng, nong/donoong, vựa/phịa
Các món ăn chế biến từ gạo và cách nấu giữ Tày và Việt đều giống nhau: nấu bằng ống tre ta có cơm/khẩu lam, người Thái gọi đồ xôi là nừng khẩu, sang tiếng việt ta có hông xôi. Cả hai đều ăn nếp và dùng chõ đồ xôi. Người Tày-Thái cũng chế biến các món bánh như: bánh tày/ bánh tét, bánh phồng, bún… cả hai đều lấy cốt gạo là rượu bằng phương pháp vi sinh vật. sau này người Việt qua người Thái đã học được cách cất rượu của người Hán. Vì thế là từ lẩu ( tày-thái), rạo ( Mường), rượu ( Việt) đều mượn từ “tửu” của người Hán.
Trong cơ cấu cây trồng của người Việt, người Tày- Thái, ngoài cây lúa là nhân vật trung tâm, còn có cả một hệ thống cây trồng có thể phân thành 3 loại: rau củ, cây ăn quả, cây làm nguyên liệu chế biến. Phần lớn cả ba loại cây đó, tên gọi giữa Tày Thái  và Việt đều giống nhau. Rau củ như môn/bôn, đậu/thùa, bí ử/mạc ứ, cà/khứa, rau muống/ phắc buống,, cải/cạt, mướp/buop… Trong đời sống hàng ngày của người Việt và người Thái có hai loại cây rất thông dụng: cây chuối và cây mía. Hầu như gia đình nào cũng trồng xung quanh nhà vài bụi chuối, vài khóm mía. Trong quan niệm của người Thái thì cây chuối, cây mía là tượng trưng cho “cái minh, cái nén” của chủ nhà ( minh và nén là hai khái niệm chỉ điểm tựa phần hồn của người Thái và chúng mang tên hồn của người Thái, ở người Việt tục thờ chuối và mía là phổ biến.
Cơ cấu bữa ăn của người Tày Thái và Việt là giống nhau: cơm-rau-cá. Người Thái có câu tục ngữ “khẩu đon tón pa khao” ( cơm trắng khúc cá bạc) tương ứng với cách suy nghĩ của người Việt “có cá làm vạ cho cơm”. Sở thích ăn uống của người Thái và người Việt cũng có nhiều nét tương đồng: ăn chua có nộm/xụm, ăn cá sống có gỏi/ cọi, tiết canh hãm/ lượt cạm, ăn nướng có chả/ chì, thức ăn muối có cá mắm/pa măm, cà ghém/ khắc hóm, quả ớt/ mạc ớt… Các dụng cụ của  nhà bếp từ đôi đũa/thù, bát/ thuội, môi/buôi đều giống nhau.
Trong phức hợp nông nghiệp lúa nước của người Tày Thái và người Việt có nhiều nghề phụ, trong đó có hai nghề quan trọng không thể thiếu được là nữ có nghề dệt vải,  nam có nghề chài lưới. Cơ cấu ngàng nghề này đảm bảo cho lối sống tự cung tự cấp khép kín đến từng gia đình nhỏ-gia đình hạt nhân và tương ứng với cách phân công lao động của một ekip làm việc trên đồng “ chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Người Thái gọi bông vải là phai. Hệ thống các công cụ dệt vải của người Thái và người Việt đều giống nhau: cửi/ki, thoi/xuối, suốt/lót, go/khấu, xa/lá, quặng/quăng, chỉ/xến, kim/khếm… Nghề dệt gắn liền với  cuộc đời của người phụ nữ Thái và Việt. Vải vóc mang lại niềm vui cho con trẻ “ già được bát canh, trẻ được manh áo mới”, trang điểm cho cô dâu đi lấy chồng, cho người già khi trăm tuổi. ở người Việt và người Thái đều dùng lụa đỏ để may áo hoặc khâm niệm cho người chết. Biết dệt và dệt đẹp là tiêu chuẩn không thể thiếu được của con gái Thái và con gái Việt.
Trong khi đó người đàn ông cần phải biết nghề sông nước, chài lưới.  Con trai Thái ngày nay và con trai Việt ngày xưa đều có tục xăm mình như giao long. Trong nghề chài lưới, cả người Việt và người Thái đều có những công cụ và cách đánh bắt cá giống nhau: chủm/ chúm (vó), dăng/chăng, nơm/ xum, ngàm xỉa/ngàm xá… Cả hai dân tộc đều có lối hô cá/hò pa, phà cá/phá pa…để xua cá vào đăng hoặc đuổi bắt. Người Thái cũng quăng chài như người Việt. Đối với cư dân Đông Nam Á thì dân tộc nào cũng biết cách săn bắt cá vì đó là hình thức săn bắt thời kỳ kinh tế tước đoạt, tuy nhiên đi vào trong cơ cấu nghề phụ thì ở Việt và Thái nghề cá không chỉ có bắt mà còn nuôi cá.
Cái ao của người Tày Thái ngoài chức năng giữ nước còn dùng để chăn nuôi. Cơ cấu ngàng nghề này nhằm bảo đảm cho nhu cầu tối thiểu về ăn và mặc. Môt hình chung này in đậm trong đời sống văn hóa và thẩm mỹ của họ. Trong bốn thứ bảo bối mà người Thái truyền lại cho người nối dõi có: mọ nưng ( nồi hông), tín he ( chân chài), ma map ( thanh gươm), lăm ống ( súng ống). Dụng cụ đánh bắt cá được xếp thé hai sau nồi cơm. Trong cách ăn cá cả người Việt và người Thái cũng giống nhau: cả hai đều thích ăn gỏi, nấu cá om, cá kho, cá luộc…và trong cách muối cá mắm cũng có kỹ thuật rất giống nhau: cá+muối+thính+gia vị. Sau này khi người Việt di cư xuống vùng ven biển vẫn dùng kỹ thuật này để làm mắm cá.

22.     Về cơ cấu xã hội và tổ chức chính trị.

Do làm nông nghiệp lúa nước nên cư dân Việt-Mường đã áp dụng mô hình cư trú của Tày-Thái. Các điểm tụ cư của họ thường nằm bên bờ nước và có chút thung lũng đồng bằng.
Người Việt cư trú như người Thái, người Thái coi bên phải là bên sống, bên trái là bên chết do đó điểm tụ cư thường nằm bên hữu ngạn dòng song hoặc suối, còn khu mộ táng thường nằm ở bên tả ngạn.  Theo như những ghi chép của thư tịch cổ Trung Hoa thì cư dân Việt-Mường trong khi áp dụng mô hình kinh tế lúa nước của cư dân Tày-Thái thì cũng đã áp dụng mô hình tổ chức xã hội vùng chân núi hẹp của người Tày trên cơ sở giữ nguyên những tổ chức công xã và những tổ chức trên một công xã có nhiều tộc người do thủ lĩnh các bộ lạc đứng đầu tương ứng với những “bộ” được ghi trong thư tịch cổ của nước Văn Lang.
Đó là một xã hội mà cơ tầng tổ chức gồm hai cấp: Bản –Mường theo cách gọi của người Thái. Bản là một công xã nông thôn, đóng vai trò như một cấu kiện có sẵn gồm những gia đình hạt nhân theo quan hệ huyết thống hay láng giềng và được vận hành theo một chế độ dân chủ công xã, đứng đầu là một “phò” ( bố làng) với hội đồng già làng. Tổ chức này cũng tương tự như plei của ngwofi Bahmar do ông “tởm plei” ( bố làng) và “ braplei” điều hành. Các bản tập hợp thành một Mường dưới sự thống trị của một dòng họ, đứng đầu là một tù trưởng được quyền cha truyền con nối. Đó là mô hình tổ chức xã hội đàu tiên của cư dân làm lúa nước vùng chân núi. Sau này hệ thống chính trị mà ta quen gọi là “ nước”- mà người Thái, người Lào gọi là “mường” cũng bắt nguồn từ tổ chức của các Mường cổ đại.
Trong mường các thành viên gắn bó với nhau bởi nhiều mối quan hệ thuộc tàn dư nguyên thủy, nhưng đã chuyển sang quan hệ bóc lột, quan hệ đẳng cấp xoay xung quanh một cơ cấu xã hội gồm 3 thành tố:
-         Tù trưởng và tầng lớp quý tộc
-         Nông dân
-         Ruộng công
Trong “Giao châu ngoại vực ký” 3 hành tố trên được gọi là : Lạc tướng, lạc dân, lạc điền. Lạc tướng là những từ trưởng có thể là dòng dõi của những thủ lĩnh cầm đầu bộ lạc. Những thủ lĩnh này đã có công khai phá đất đai hoặc chiến thắng trong các cuộc chiến tranh nên được các thành viên suy tôn làm  người đại diện. Họ được tập thể trả công và giao cho quyền phân chia ruộng và sử dụng các tài sản dành cho công việc chung. Nhờ năng suất lúa nước cao mà những người này có thể bóc lột được những phần lao động thặng dư của nông dân. Sau này con cháu của Lạc tướng được thừa hưởng quyền mà tập thể dành cho những thủ lĩnh đầu tiên. Ngày nay ở các bộ tộc vùng Tây Nguyên như ở người Eede, chúng ta còn thấy bóng dáng mờ nhạt của người thủ lĩnh ban đầu qua hình ảnh ông Loolan ( người chủ đất) với những tục lệ như: hàng năm người đứng đầu dòng dõi của Poolan đi mở đầu các lễ nghi nông nghiệp chác các làng và họ được nhận những phần quà biếu như sản vật đầu mùa, sản phẩm săn bắn được… Ở người Mường cũng còn lại vài nét thấp thoáng như thế qua việc phân chia phần cho nhà lang.
Theo giáo sư Từ Chi thì chế độ bóc lột ra đời không phải trên cơ sở tư hữu mà trên cở sở công hữu về ruộng đấy bởi vì:
+Đẳng cấp quý tộc đã giữ được thế mạnh và quyền uy của tông tộc mà thống thống trị người lao động, trong khi tầng lớp này bị vỡ vụn ra thành những gia đình nhỏ. Nhờ chức năng quản lý mà cả tầng lớp quý tộc thoát ly khỏi sản xuất nên họ có thể giữ và củng cố được chế độ tông tộc, còn những người bình dân xưa kia do quá trình du canh du cư, lại tụ họp nhau theo các tù trưởng khai khẩn đất hoang nên họ đã không còn giữ được tông tộc.
+Trong công xã, ruộng đất thuộc về của chung, các thành viên đều được nhận một phần ruộng theo sự phân phối định kỳ và được quyền hưởng dụng phần đất đó. Tầng lớp quý tộc đã giành quyền  phân phối ruộng công để bóc lột người lao động dưới hình thức công nạp.
Như vậy xã hội đã phân hóa thành hai đẳng cấp: quý tộc và bình dân, gắn bó với nhau bởi chế độ công hữu về ruộng đất. Trong thư tịch cổ cũng ghi lại cái cốt lõi của mối quan hệ đó “ người cày ruộng đó là lạc dân, người ăn ruộng đó là lạc hầu.
Trong gia đình quý tộc, con cái họ đều được gọi bằng những từ theo tiếng Tày-Thái: con gái gọi là Mỵ nương-mẹ nàng ( tiếng Thái gọi là  Mè Nhình), còn con trai gọi là Quan lang. Các tầng lớp tôi tớ thì gọi là Ti xảo , tiếng Thái gọi là Khỏi đảo.
Sau này do áp lực dân số từ phương Bắc dồn xuống  nên mồ hình xã hội Tày-Thài dần bị phá vỡ, thay vào đó là một mô hình xã hội mới có Lạc vương, lạc hầu, lạc tướng. Còn như chúng ta đã biết, mường là một khái niệm chỉ tổ chức xã hội truyền thống của cư dân Tày-Thái. Đó là một đơn vị gồm nhiều bản: Đứng đàu tổ chức mường là Chẩu Mường ở người Thái, hay Lang Cun ở người Mường. Đứng đầu bản là Phò bản ở người Thái và Lang tạo ở người Mường. Bản của Chẩu mường ở trung tậm hay trụ sở của Mường được gọi là bản Chiềng. Tại bản Chiềng được xây dựng một thành vây quanh chỗ ở của từ trưởng gọi là Viêng.
ở người Thái vùng Tây Bắc Việt Nam khi tích hợp xã hội lớn hơn một mường, tức là gồm nhiều mường trở lên, người ta vẫn dùng khái iệm mường để chỉ các cấp tổ chức hành chính. Ta có “mường phìa”  là bé nhất, Châu mường là gồm nhiều mường khìa, mường luống là mường lớn, đứng đầu nhiều châu mường. Như vậy ta có thể thấy bản-mường là mô hình tổ chức sơ khai nhất của cư dân Tày-Thái. Vì vậy có sở để chúng ta tin rằng chủ nhân của nền văn hóa Phùng Nguyên-Đông Sơn là một tập thể bao gồm nhiều bộ tộc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau, trong đó cư dân nói tiếng Việt-Mường chung đã được hình thành trong quá trình hội tụ và đã áp dụng mô hình kinh tế-xã hội Tày Thái, và người tù trưởng lớn tuổi đầu đã được huyền thoại ghi lại là Vua Hùng. Sau này khi nhà Hán thống trị đất Nam Việt, họ đã xóa bỏ bộ máy chính trị phôi thai đó và áp dụng chế độ quận huyện lên tổ chức mường và biến người tù trưởng của mường thành hào trưởng địa phương, giữ nguyên tổ chức làng bản như đã vốn có.

3=>   Kết luận


Tất cả những điều đã nói ở trên lý giải rõ cho giả thuyết của các nhà khoa học rằng nhóm người nói ngôn ngữ Việt-Mường chung, đã áp dụng mô hình văn hóa lúa nước của người Tày-Thái cổ.  Những dấu vết văn hóa Nam Á trong họ chỉ có thể lưu lại trong ngôn ngữ và văn hóa dân tộc của người Việt-Mường mà hieneh nay còn bảo lưu và mang theo. Văn hóa vật chất được lưu lại trong lòng đất lại phản ánh mô hình văn hóa vật chất của người trồng lú nước cư dân Tày-Thái mà chủ nhân nền văn hóa Phùng Nguyên đã để lại. Những điều ghi chép trong thư tịch cổ hay truyền thuyết về xã hội ban đầu mà ta gọi là thời kỳ vua Hùng, thời Âu Lạc đều là những miêu tả sơ lược về tổ chức hành chính kiểu xã hội Tày-Tháu cổ mà người Viêt-Mường đã áp dụng như được minh chứng ở trên.